Điệp viên Phạm Ngọc Thảo Kỳ 2: Gia thế

Trong kỳ 2 này chúng ta cùng đi tìm hiểu về chủ đề: Gia thế
Gia thế
Phạm Ngọc Thảo xuất thân từ một gia đình trí thức giàu có ở Vĩnh Long, theo đạo Công giáo toàn tòng. Thân sinh của ông là cụ Adrian Phạm Ngọc Thuần, một kỹ sư trắc địa và là một điền chủ giàu có nổi tiếng Nam bộ, mang quốc tịch Pháp. Anh chị em ông cũng có quốc tịch Pháp nên sang Pháp du học, đều trở thành bác sĩ, kỹ sư, luật sư.
Dù học ở Pháp, dù là “dân Tây”, dù có cuộc sống giàu sang nhưng anh chị em Phạm Ngọc Thảo đều hướng về đất nước, đều khát khao giành độc lập cho Tổ quốc. Anh ruột ông, luật sư Gaston Phạm Ngọc Thuần tham gia Thanh Niên Tiền phong chống Pháp cùng bác sĩ Phạm Ngọc Thạch từ năm 1943, sau đó tham gia khởi nghĩa giành chính quyền và làm đến chức Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ, sau năm 1954 tập kết ra Bắc, làm Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại CHDC Đức. Một người anh khác, ông Lucien Phạm Ngọc Hùng cũng từ Pháp về nước tham gia kháng chiến, sau này là Ủy viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam…
pham-ngoc-thao-1
Phạm Ngọc Thảo sinh ngày 14.2.1922, sau khi đỗ tú tài ở Sài Gòn, do Đại chiến thế giới 2 nổ ra, ông không sang Pháp mà ra Hà Nội học,  tốt nghiệp bằng kỹ sư công chánh năm 1942 và về làm việc tại Sài Gòn từ năm 1943. Theo chân người anh, ông tham gia Cách mạng tháng Tám năm 1945 ngay từ những ngày đầu và khi Pháp quay lại xâm chiếm Nam bộ, ông tuyên bố hủy bỏ quốc tịch Pháp, lên đường cầm súng đi kháng chiến.
Vì sao con cái một gia đình “đại địa chủ” (theo nhiều tài liệu thì gia đình Phạm Ngọc Thảo có tới hơn 4.000 mẫu đất và hàng ngàn bất động sản ở Nam bộ), đồng thời là “dân Tây” và là Công giáo toàn tòng, lại “đồng loạt” tham gia kháng chiến, không chỉ tham gia kháng chiến mà còn đem hết gia sản ra ủng hộ kháng chiến?
Sự “đồng loạt” hiếm có đó là từ chính nghĩa của cách mạng, là từ truyền thống yêu nước của gia đình, xuất phát từ người ông của Phạm Ngọc Thảo. Ông nội của Phạm Ngọc Thảo là cụ Phạm Ngọc Lành (cụ Lành có thể có nhiều tên khác), là một thương gia lớn ở Nam bộ thời Pháp thuộc. Sau này cho con cháu gia nhập quốc tịch Pháp để “tự vệ”, song cụ Lành sinh thời không những không dính dáng gì với người Pháp mà còn tích cực ủng hộ, hậu thuẫn cho các phong trào yêu nước chống Pháp từ trước khi có cách mạng. Ngay cả phong trào Cần Vương ở tận miền Trung cũng được cụ Lành gửi tiền của hậu thuẫn. Nhiều bậc tiền bối của cách mạng ở Nam bộ đã dựa vào gia đình này để nhen nhóm phong trào và khi cách mạng nổ ra, gia đình này đã nhẹ nhàng đem hết gia sản và con cái ra cống hiến.
Thực ra, khi đất nước bị chia cắt thì một gia đình bị phân hóa cũng là bình thường, mặt khác, sau này anh em ông Ngô Đình Diệm đã trọng dụng Phạm Ngọc Thảo, không chỉ vì ông Thảo có tài năng, có tư cách. Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Trần Kim Tuyến chắc chắn không “mù”, họ biết rất rõ những người anh của Phạm Ngọc Thảo đang ở “phía bên kia”. Sau khi lên cầm quyền ở miền Nam, Ngô Đình Diệm thực hiện khẩu hiệu “phản đế, bài phong” để xây dựng chế độ quốc gia “cạnh tranh” với những người cộng sản, nhưng điều mỉa mai là hầu hết các tướng lãnh, sĩ quan và quan chức cao cấp chính quyền của họ đều là sản phẩm do người Pháp để lại. Anh em họ Ngô rất cần có những trí thức từng tham gia chống Pháp ở bên cạnh mình và rất cần sự hậu thuẫn của những gia đình có truyền thống yêu nước như gia đình Phạm Ngọc Thảo để làm nền móng cho chế độ. Phạm Ngọc Thảo và cấp trên của ông không bao giờ đánh giá thấp anh em Ngô Đình Diệm, nếu đánh giá thấp đối phương thì không thể có được “ván bài lật ngửa” ngoạn mục như chúng ta đã biết. Nhưng đó là chuyện sau này.
Năm 1946, ông được cử đi học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây. Sau khi tốt nghiệp khóa 1 trường này, ông lập tức trở về miền Nam chiến đấu và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của kháng chiến: Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trưởng phòng Mật vụ Nam bộ (chức vụ tương đương Trung đoàn trưởng). Năm 1949, Phạm Ngọc Thảo kết hôn với bà Phạm Thị Nhiệm, cũng là một trí thức tham gia kháng chiến (bà Nhiệm là em gái Giáo sư Phạm Thiều lúc đó là Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông Nam bộ, sau khi tập kết ra Bắc làm Đại sứ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại một số nước Đông Âu).
Năm 1946 cũng là năm ông Lê Duẩn được Trung ương cử vào Nam làm Bí thư Xứ ủy Nam bộ. Khi quân Pháp đổ bộ vào miền Nam, giữa sự vây ráp ráo riết của địch, chính Phạm Ngọc Thảo là người trực tiếp hộ vệ đưa ông Lê Duẩn từ Phú Yên, nơi đóng trụ sở Ủy ban Hành chính kháng chiến miền Nam Việt Nam về chiến trường Nam bộ để lãnh đạo kháng chiến. Bản lĩnh, tài năng, mưu trí và phẩm chất của Phạm Ngọc Thảo trên chiến trường đã chinh phục niềm tin của vị Bí thư Xứ ủy. Cuộc hạnh ngộ này ảnh hưởng quyết định đến sứ mệnh sau này của ông. Dùng một trí thức con nhà Công giáo đại địa chủ làm tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, thậm chí làm tướng cũng không có vấn đề gì, nhưng làm Trưởng phòng Mật vụ của cả Nam bộ kháng chiến thì, trừ ông Lê Duẩn, không ai dám và điều này thì quả thật, ông Lê Duẩn có con mắt anh hùng đoán giữa trần ai. Trong những lúc nói chuyện với chúng tôi, ông Võ Văn Kiệt trước sau đều khâm phục tầm nhìn chiến lược và sự trông xa thấy rộng của ông Lê Duẩn và ông cũng nhớ lại: “Không ít anh em cũng lo ngại về cách dùng người như vậy của anh Ba”.
Điều đáng chú ý là những nhân vật như Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim… cũng có vào chiến khu tham gia kháng chiến trong thời gian đầu và họ đều được Phạm Ngọc Thảo huấn luyện về chiến tranh du kích, nhưng họ đã quay lưng theo Pháp và trở thành những tướng lãnh quân đội Sài Gòn. “Những người quen cũ” đó sau này vừa nể phục Phạm Ngọc Thảo vừa coi ông là một đối thủ đáng gờm.
Hiệp định Genève được ký kết, Phạm Ngọc Thảo được đích thân Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn chỉ định ở lại miền Nam với nhiệm vụ chiến lược là thâm nhập vào hàng ngũ cao cấp của chính quyền Sài Gòn để “phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước”. Ông Lê Duẩn giới thiệu Phạm Ngọc Thảo với ông Mai Chí Thọ, lúc ấy là người phụ trách Ban Đặc tình Xứ ủy (sau này là đại tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Hai người khác trong Ban cùng có mặt là ông Mười Hương và ông Cao Đăng Chiếm (sau này là thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ).
Tuy ở lại hoạt động ở miền Nam nhưng ông Mai Chí Thọ là người lừng lẫy nên có quá nhiều người biết, ông Cao Đăng Chiếm cũng vậy, Đảng không cho phép vào sống ở Sài Gòn, chỉ có ông Mười Hương là có thể vào Sài Gòn sống hợp pháp vì ông là cán bộ từ ngoài Bắc vào, không ai biết. Do đó, ông Mười Hương đã bàn bạc cụ thể với Phạm Ngọc Thảo về đường hướng, phương thức hoạt động và trực tiếp liên lạc với Phạm Ngọc Thảo ngay tại Sài Gòn. Ông Mười Hương trở thành “người chỉ huy” Phạm Ngọc Thảo trong thời kỳ đầu, tuy nhiên thời gian này rất ngắn, vì sau đó ông Mười Hương bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam ở Huế.
 
(Còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN

Điệp viên Phạm Ngọc Thảo kỳ 1: Oanh liệt trong thầm lặng

Phạm Xuân Ẩn và Phạm Ngọc Thảo là 2 điệp viên huyền thoại trong lịch sử tình báo nước nhà. Trong những bài trước chúng tôi đã giới thiệu đến khá nhiều vị điệp viên Phạm Xuân Ẩn và trong phần này tiếp tục sẽ là Phạm Ngọc Thảo.

pham-ngoc-thao
Những giọt nước mắt của ông Mười Hương

Tấm hình đăng kèm theo đây do nhà báo Chin Kah Chong của hãng tin Pan-Asia Newspaper Alliance (PANA News) của Nhật Bản chụp Phạm Ngọc Thảo mang lon đại tá quân đội Sài Gòn lúc chỉ huy cuộc đảo chính ngày 19.2.1965 lật đổ chính quyền Nguyễn Khánh. Ông Chin đã gửi tặng tấm hình cho chúng tôi trong dịp sang lại Việt Nam cách đây không lâu. Ông bảo ông đã hai lần gặp Phạm Ngọc Thảo, ông kể lại không khí của cuộc đảo chính mà ông trực tiếp chứng kiến hồi đó, nhưng ông không lý giải được về hoạt động của vị đại tá này dù ông rất ngưỡng mộ.
Cho đến nay, Phạm Ngọc Thảo vẫn còn là một bí ẩn khó có thể giải mã. Không phải vì xung quanh ông vẫn còn những bí mật quân sự, cũng không phải xung quanh ông có những điều “nhạy cảm” khó nói. Khó giải mã là do tầng tầng lớp lớp những biến cố lịch sử, những quan hệ, sự thiên biến vạn hóa của chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật, nghệ thuật chiến tranh tồn tại trên chiến trường, trên chính trường và trong cuộc sống nhưng nằm ngoài sách vở và các bản tổng kết.
Sau khi bộ phim nổi tiếng Ván bài lật ngửa bắt đầu công chiếu từ năm 1982, khi biết nhân vật Nguyễn Thành Luân được nhà văn Trần Bạch Đằng xây dựng dựa trên nguyên mẫu là Phạm Ngọc Thảo, những giai thoại về Phạm Ngọc Thảo dần dần lưu truyền rộng rãi trong dân chúng. Nhà văn – nhà cách mạng Trần Bạch Đằng từng là Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ, là một trong số rất ít người biết rất rõ Phạm Ngọc Thảo, nhưng Ván bài lật ngửa vốn là một cuốn tiểu thuyết được dựng thành phim, tất nhiên Nguyễn Thành Luân dù mang dáng dấp Phạm Ngọc Thảo nhưng vẫn là một nhân vật hư cấu. Lúc ấy ngôi mộ của Phạm Ngọc Thảo vẫn chỉ là một nấm mồ vô danh.
Mãi đến ngày 30.8.1995, đại tá QĐND Việt Nam, liệt sĩ Phạm Ngọc Thảo mới được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Lý do của sự chậm trễ này chưa bao giờ được công bố chính thức.
Sau năm 1987, báo chí trong nước có viết một số bài về Phạm Ngọc Thảo, nội dung còn sơ lược, chủ yếu dựa vào lý lịch và bản thành tích được công bố. Trong khi ở nước ngoài, nhiều người từng ở “phía bên kia” quen biết Phạm Ngọc Thảo cũng viết về ông, bên cạnh việc thuật lại các góc độ khác nhau những sự kiện mà họ chứng kiến là những phỏng đoán, nhất là sự phỏng đoán xung quanh 2 vấn đề mà họ không giải thích được: Vì sao mãi tới 12 năm sau ngày hòa bình Nhà nước Việt Nam mới chính thức công nhận Phạm Ngọc Thảo là “người của mình”? Nếu Phạm Ngọc Thảo là tình báo “Việt cộng” thì khi cuộc đảo chính tháng 2.1965 thất bại, ông hoàn toàn có thể chạy ra căn cứ một cách an toàn, nhưng vì sao ông không đi mà ở lại tại một xứ đạo để cuối cùng phải chết một cách bi thảm?
Không thể đem những lý lẽ thông thường để luận giải cuộc đời bi tráng của người anh hùng phi thường này. Giữa một rừng gươm giáo hiểm ác, ông như một nghệ sĩ xiếc đi trên dây, bên phải thì địch muốn giết, bên trái thì ta cũng muốn giết. Ông hiên ngang lật ngửa ván bài và “chơi” tới tận cùng. Địch coi ông là tên “Việt cộng” nằm vùng nguy hiểm, ông không ngại, thậm chí còn viết báo công khai ca ngợi tinh thần vì dân vì nước của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chống Pháp. Ngại nhất là ta, bởi vì ngay tại Sở Chỉ huy của kháng chiến cũng chỉ vài người được biết ông là người của ta, nên khi ông thả hàng ngàn tù chính trị, cơ quan chỉ huy kháng chiến cấp dưới lập tức kết luận ông là tên tỉnh trưởng mị dân nguy hiểm nhất cần phải trừ khử. Ông đã nhiều lần thoát chết, không phải do sự nương tay của ta, mà do may mắn.
Sinh thời cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt bao giờ cũng rơm rớm nước mắt mỗi khi nhắc đến Phạm Ngọc Thảo. Ông bảo Phạm Ngọc Thảo do đích thân ông Lê Duẩn giao nhiệm vụ ở lại miền Nam làm tình báo chiến lược, không phải để cung cấp tin tức, mà đi sâu vào hàng ngũ cao cấp của chính quyền Sài Gòn nhằm xoay chuyển thời cuộc, chuẩn bị cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Đối với ông Võ Văn Kiệt, Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo kiệt xuất, là người anh hùng hội đủ nhân, trí, dũng. Ông vẫn tiếc là không cứu được Phạm Ngọc Thảo mặc dù ông đã làm hết cách.
Còn ông Mười Hương thì vừa nói đến Phạm Ngọc Thảo đã khóc như một đứa trẻ. Lần đầu gặp ông, khi chúng tôi hỏi vì sao Phạm Ngọc Thảo được công nhận liệt sĩ và phong anh hùng chậm như vậy, ông nức nở: “Phong anh hùng 10 lần cho Phạm Ngọc Thảo cũng xứng đáng, nhưng chưa thể được, vì vợ con Thảo đang ở Mỹ. Khi chiếu phim Ván bài lật ngửa, tôi gọi cho ông Trần Độ (lúc ấy làm Trưởng ban Văn hóa Văn nghệ T.Ư – TN) bảo hãy cấm cái phim đó đi, đừng làm hại vợ con Phạm Ngọc Thảo”. Ông Phạm Xuân Ẩn từng nói với chúng tôi rằng, sau khi Phạm Ngọc Thảo bị giết chết, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã đề nghị chính quyền Mỹ trục xuất vợ con ông Thảo, lúc đó ở Mỹ có một cuộc vận động bảo vệ vợ con ông Thảo, ngay cả những nhà báo Mỹ chống cộng cũng phản đối sự trục xuất này, vì vậy mà vợ con ông Thảo vẫn bình an vô sự cho đến bây giờ.
Sự lo xa của ông Mười Hương là tình nghĩa rất đáng trân trọng. Giọt nước mắt của ông đủ để giải thích lý do vì sao Phạm Ngọc Thảo chậm được thừa nhận một cách công khai. Quốc gia đại sự không bao giờ bỏ sót cái tình, và suy cho cùng cũng vì cái tình mà có quốc gia đại sự.
Hoàng Hải Vân

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn: “Tôi thanh thản ra đi được rồi”

“Người ta có thể nói gì về cuộc sống khi mà phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng hi sinh”.

pham-xuan-an

Phạm Xuân Ẩn cùng Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP.HCM (thứ hai và thứ ba từ phải qua) Emi Lynn Yamauchi thăm tàu hải quân Mỹ USS Vandegrift tháng 9-2003


Sắc sảo đến ngày cuối cùng 
Phạm Xuân Ẩn ngồi đối diện tôi. Tôi giới thiệu mình là giáo sư dạy Đại học California – Davis, ông Ẩn nghe tôi tự giới thiệu như vậy thì mắt bỗng sáng lên: “Ông từ California đến? Tôi đã từng có thời sống ở đó và học đại học ở Costa Mesa đấy. Đó là thời kỳ hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi”.

Hai năm tiếp theo cho đến khi Phạm Xuân Ẩn ốm nặng, ông và tôi thường gặp nhau tại tiệm cà phê Givral. Năm 2003, sau năm thập kỷ hút thuốc lá, Phạm Xuân Ẩn mắc bệnh phổi rất nặng. Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi đã hút thuốc lá 52 năm rồi. Giờ đây tôi đang phải trả giá cho điều đó”. Một lần, tôi đến TP.HCM vào ngày Phạm Xuân Ẩn phải đi viện. Tôi điện thoại cho Phạm Xuân Ẩn, ông cũng xác nhận kết quả chẩn đoán là rất xấu. Vài tháng sau tôi trở lại TP.HCM, nhưng vì ông Ẩn còn yếu nên tôi đề nghị được gặp ông tại nhà riêng của ông. Đó là ngôi nhà ở số 214 Lý Chính Thắng, trước kia là nhà riêng của một nhà ngoại giao Anh. Chúng tôi vừa ngồi uống trà, vừa trò chuyện trong nhiều giờ.

Khi tôi hỏi liệu tôi có thể viết hồi ký cho ông được không, Phạm Xuân Ẩn trả lời thẳng thừng: “Không!”. Tuy vậy, cuộc trao đổi của chúng tôi vẫn tiếp tục. Tôi đưa ra càng nhiều câu hỏi về những việc ông đã làm trong nghề tình báo, Phạm Xuân Ẩn kể cho tôi nghe càng nhiều. Khi đó, tôi luôn tay ghi chép và bắt đầu ghi âm những cuộc nói chuyện của chúng tôi. Một lần nữa, Phạm Xuân Ẩn tránh được đi gặp Diêm Vương. Ông xuất viện trở về nhà với hai lá phổi chỉ còn làm việc được 35% công suất. Trông ông ốm yếu khủng khiếp. Tuy nhiên, đầu óc, trí nhớ, và cả khiếu hài hước trong ông vẫn sắc sảo như thường.

Sau này tôi mới biết Phạm Xuân Ẩn chưa dứt ra hoàn toàn khỏi nghề tình báo, ông vẫn còn là cố vấn cho Tổng cục Tình báo ở Hà Nội mãi đến sáu tháng trước khi ông qua đời mới thôi. Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi có nhiệm vụ đọc những tài liệu này, rồi đưa ra những phân tích của mình. Mọi người biết rõ tôi sẽ đưa ra những đánh giá chân thực nhất”.

Tôi bèn lật ngửa “con bài” cuối cùng của mình bằng cách nói rằng sẽ là thích hợp nếu một giáo sư đại học ở California – một bang của nước Mỹ mà tại đây, ông Ẩn từng có đầy ký ức đẹp đẽ – viết hồi ký về cuộc đời Phạm Xuân Ẩn. Phạm Xuân Ẩn nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói: “OK”. Ông hứa sẽ hợp tác với tôi.Sau nhiều lần thuyết phục Phạm Xuân Ẩn để tôi viết hồi ký về ông không thành, tôi bèn van nài, hi vọng được ông chấp nhận với tôi một điều rằng cuốn hồi ký về cuộc đời ông phải để cho một nhà sử học như tôi viết ra, chứ không chỉ các nhà báo Việt Nam viết về ông vì có thể ở VN vẫn còn áp dụng kiểm duyệt. Ông từ chối.

Một phần của quá trình hòa giải

Tôi chưa bao giờ nghe Phạm Xuân Ẩn nói điệp viên là một cái gì khác ngoài nhiệm vụ được giao, mà nhiệm vụ ấy đã kết thúc khi đất nước thống nhất. Trước khi Phạm Xuân Ẩn qua đời, trên các bức tường trong nhà ông không hề treo huân chương, bằng khen, giấy chứng nhận danh hiệu anh hùng. Ông để tất cả những thứ đó trong ngăn kéo hoặc trên tường phòng ngủ ở tầng hai.

Tài sản dễ nhìn thấy nhất của Phạm Xuân Ẩn là sách, chất đầy trên giá sách, trên mấy cái bàn ở gần đó và một đống tạp chí Time mà ông nhận được hằng tuần. Những người đến thăm, nếu biết sở thích của ông, thì mang cho ông những cuốn sách mới. Phạm Xuân Ẩn là người đọc đủ mọi thứ sách. Ai có thời gian để lắng nghe ông sẽ học được rất nhiều điều. Trong thời kỳ 1975-1986, khi Phạm Xuân Ẩn còn bị theo dõi, ông đã dành nhiều thời gian để đọc sách cùng với các con mình. Ông luôn cố gắng truyền đạt cho các con ông những giá trị cơ bản mà ông đã từng học được từ rất nhiều người bạn của mình. “Tôi muốn các cháu biết tôn trọng nhân văn và nhận ra được rằng sự hiểu biết, kiến thức quí giá hơn tiền bạc”, ông nói.

Phạm Xuân Ẩn vẫn là người có cảm tình với Mỹ trong suốt cả cuộc đời mình. Ông đã rất vui khi chứng kiến một chương mới mở ra trong quan hệ giữa VN và Mỹ. Theo lời mời của đại sứ Hoa Kỳ tại VN Raymond Burghardt và tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP.HCM Emi Lynn Yamauchi, Phạm Xuân Ẩn lên thăm tàu hải quân Mỹ USS Vandegrift hồi tháng 9-2003. Cùng thăm tàu có các quan chức cao cấp khác nhân dịp lần đầu tiên, một tàu hải quân Mỹ cập cảng VN kể từ khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Kể lại chuyện này cho tôi nghe, Phạm Xuân Ẩn nói: “Giờ thì tôi có thể thanh thản ra đi được rồi. Tôi đã phục vụ đất nước tôi, nhân dân tôi, và sự thống nhất Tổ quốc”.

Phạm Xuân Ẩn đã được chứng kiến một chương mới mở ra trong quan hệ giữa VN và Mỹ. Trên thực tế, ông đã trở thành một phần của quá trình hòa giải rộng lớn hơn giữa hai kẻ thù xưa. Đại sứ Raymond Burghardt khi sắp kết thúc nhiệm kỳ công tác tại VN đã đến nhà Phạm Xuân Ẩn để chia tay. Đại sứ Burghardt nói với tôi: “Câu chuyện và cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn thật không thể nào tin được, nhưng vượt lên trên tất cả những điều đó, Phạm Xuân Ẩn là một biểu tượng quan trọng của tình hữu nghị mới giữa hai nước chúng ta”. Vài tuần sau, tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP.HCM Emi Lynn Yamauchi đã ăn tết VN với gia đình Phạm Xuân Ẩn.

Tôi vừa hoàn thành bản thảo Điệp viên hoàn hảo thì Phạm Xuân Ẩn qua đời vì bệnh phổi ngày 20-9-2006, chỉ tám ngày sau sinh nhật lần thứ 79 của ông.

Tuoitre.vn

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 11: Giấc mơ của người cha

“Suốt cuộc đời mình, tôi chỉ có hai trách nhiệm. Một là nghĩa vụ của tôi đối với Tổ quốc. Hai là trách nhiệm của tôi đối với những người bạn Mỹ. Mong ước của tôi là: đấu tranh cho đến khi đất nước giành được độc lập và sau đó lập quan hệ ngoại giao và bình thường hóa quan hệ giữa VN và Mỹ, được như vậy thì tôi có thể mỉm cười mà nhắm mắt xuôi tay bất cứ lúc nào cũng thỏa lòng rồi”.

22.000 USD và tấm lòng những người bạn Mỹ

Phạm Xuân Ẩn từng sống và làm việc với người Mỹ trước khi có cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ông từng đánh giá cao người Mỹ. Sau chiến tranh, tất nhiên Phạm Xuân Ẩn muốn con trai mình cũng như vậy. Phạm Xuân Ẩn nói: “Đảng dạy tôi những điều về hệ tư tưởng. Từ người Mỹ, tôi học được những điều quan trọng khác về nghề báo và phương pháp tư duy. Đó là điều tôi muốn con mình cũng học được như vậy. Tôi muốn con trai tôi có những người bạn là người Mỹ”. Phạm Xuân Ẩn tiên liệu rằng những người bạn Mỹ của ông sẽ giúp đỡ ông, bởi vì họ sẽ còn nhớ ông với tư cách một người đồng nghiệp, chứ không phải là một kẻ thù của đất nước họ, hoặc một kẻ phản bội lại sự tin cậy của họ.

giac-mo-nguoi-cha

Vào thời điểm năm 1989, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chưa có mối quan hệ ngoại giao chính thức nào. Tất cả những khó khăn thời đó vẫn không thể cản trở được Robert Sam Anson và Frank McCulloch mở một cuộc vận động nhằm đưa Ân sang học ở Mỹ, cũng như không thể cản trở nổi người cha của chàng thanh niên trong việc phối hợp các nỗ lực từ phía Việt Nam. Đối với Robert Sam Anson, đây là một cơ hội để ông trả món nợ đời với Phạm Xuân Ẩn đã từng cứu mạng ông lúc ở Campuchia.

Đối với Frank McCulloch, khi đó là trưởng ban biên tập của tờ San Francisco Examiner, đây là cách bày tỏ sự kính trọng đối với Phạm Xuân Ẩn, cũng như niềm tin sâu sắc vào tương lai. McCulloch nói với tôi: “Chúng tôi không quyên góp tiền cho các con của Nguyễn Văn Thiệu hay Nguyễn Cao Kỳ. Đó là cách thể hiện sự tôn trọng và khâm phục của mọi người đối với Phạm Xuân Ẩn. Chúng tôi đặt điều kiện rằng sau khi hoàn thành khóa học, cháu Ân phải trở về VN”.

Bob Anson đã tình nguyện sử dụng các mối quan hệ của gia đình ông để Ân được chấp nhận vào khoa báo chí của Trường đại học North Carolina. Trong một lá thư đề ngày 7-5-1990, chủ tịch Trường đại học North Carolina là C. D. Spangler gửi cho Anson nói rằng: “Đại học North Carolina ở Chapel Hill sẽ vui lòng chấp nhận anh Ân vào học tại khoa báo chí với tư cách sinh viên phi bằng cấp”. Chương trình phi bằng cấp kéo dài một năm là rất bổ ích cho các sinh viên nước ngoài, vì họ có thể tham dự các lớp học mà không bị ràng buộc vào những yêu cầu cụ thể. Tuy nhiên, chương trình này không kèm với sự hỗ trợ tài chính thuộc bất kỳ loại nào. Nếu Ân học tốt ở năm đầu tiên và sau đó làm tốt các bài kiểm tra GRE, cháu hoàn toàn có thể trúng tuyển vào chương trình thạc sĩ báo chí.

Nhiệm vụ trước mắt là quyên góp tiền. McCulloch lên kế hoạch phát động chiến dịch quyên góp tiền. Trong một lá thư gửi cho “những người bạn thân” đề ngày 4-9-1990, McCulloch viết: “Tôi nghĩ rằng về quan hệ cá nhân hầu hết các bạn đều biết Phạm Xuân Ẩn, hoặc nếu ai không có quan hệ với ông ấy thì sẽ nhớ ông như một phóng viên của tạp chí Time – Life ở Sài Gòn.

Nhiều thế hệ đã thay đổi và giờ đây con trai lớn của Phạm Xuân Ẩn, cháu Ân, rất muốn tới Mỹ để học ngành báo chí – không phải là cách để chạy trốn khỏi Việt Nam mà theo lời cháu, thì khi về nước có nhiều kỹ năng mới “để phục vụ nhân dân tôi”. Ân cần 11.000 USD cho mỗi năm học. Vào dịp lễ Tạ ơn năm 1990, mọi việc thẩm tra về an ninh đối với Ân đã được thông qua và cháu được cấp visa sinh viên hạng F-1, những người bạn và đồng nghiệp của Phạm Xuân Ẩn đã quyên góp đủ tiền chi phí cho học trong hai năm ở Trường đại học North Carolina. Phạm Xuân Ẩn gửi toàn bộ tiền hưu trí của ông do tạp chí Time trả cùng với 3.000 USD nữa để đóng góp vào quĩ này.

Niềm hạnh phúc trong tim

Bài đầu tiên khiến tôi gần như không còn nghi ngờ gì về sự ảnh hưởng từ bóng dáng của cha cháu, nhưng đồng thời cháu cũng có những nét riêng. Bài báo xuất hiện trên tờChapel Hill Herald-Sun số ra ngày 29-5-1993, có tựa đề “Nơi che chở động vật điều trị, phóng thích những con vịt bị thương” được ký tên “Ân Phạm, phóng viên”.Ân đã học hai năm ở Trường đại học North Carolina, làm việc một nửa thời gian tại thư viện của nhà trường và có một kỳ thực tập ngắn tại một tòa báo, giống hệt như cha cháu đã từng làm trước đó 30 năm tại báo Sacramento Bee. Trong một cử chỉ gợi cho tôi nhớ về cha cháu, Ân chạy đến một chiếc hộp ngăn kéo trong phòng đọc sách của gia đình, rồi rút ra những mẩu cắt báo những bài mà cháu đã viết.

Năm 1993, Ân đã trở lại Việt Nam để bắt đầu làm việc tại Bộ Ngoại giao. Năm 1999, Ân giành được học bổng Fulbright, được học một khóa tại khoa luật Trường đại học Duke, Hoa Kỳ. Khi cháu cần sự giúp đỡ về tài chính để dự thêm một học kỳ mùa hè tại Trường đại học Duke, chủ tịch Trường đại học North Carolina Spangler đã không ngần ngại giúp cháu.

Trong thời gian Tổng thống Mỹ George W. Bush thăm Việt Nam tháng 9-2006, Phạm Xuân Hoàng Ân được chọn làm phiên dịch cho cuộc trao đổi giữa Tổng thống Bush và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Ân nói với tôi: “Cháu ước gì ba cháu có mặt ở đây để chứng kiến những giây phút này. Giọng của cháu đôi lúc đã nghẹn lại trong quá trình phiên dịch cho tổng thống và Chủ tịch nước, cháu đã cố kiềm chế những giọt nước mắt của mình vì quá xúc động”.

Vâng, Phạm Xuân Ẩn đã từng tự hào về con trai mình, nhưng tôi nghĩ chắc ông còn cảm thấy hạnh phúc hơn khi các mối quan hệ giữa hai nước đã trở nên thân thiết và gần với trái tim ông.

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 10: Điều chỉnh lại mình

Trong kỳ 10 này chúng ta cùng đọc bài viết ” Điều chỉnh lại mình” Bài viết nói nói về diễn biến sau khi giải phóng năm 1975.

pham-xuan-an-vo-nguyen-giap

Những ngày ở đây, Phạm Xuân Ẩn được phong tặng danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân, được chụp ảnh cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các anh hùng khác trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

“Tôi đã cố gắng”

Tháng 8-1978, Phạm Xuân Ẩn rời gia đình để đi dự một khóa học của Học viện Chính trị cao cấp ở Hải Dương. Ông học tại đó cho đến tháng 6-1979.

Phạm Xuân Ẩn nói với tôi: “Tôi cần phải đến đó vì tôi chẳng biết gì về chủ nghĩa Mác – Lênin và duy vật biện chứng. Tôi đã có một cuộc sống khác trong suốt thời gian tôi thi hành nhiệm vụ bí mật của mình. Cuộc sống đó giờ đây đã chấm dứt. Tôi hiểu nhiều về hệ thống Mỹ hơn là hệ thống này, do vậy tôi cần phải đọc tất cả những sách kinh điển về lối tư duy kinh tế Nga”. Phạm Xuân Ẩn nói mà không nở một nụ cười nào, mất hẳn cái cách châm biếm thường thấy của ông: “Đây là năm mà lối tư duy của tôi được chờ đợi là sẽ thay đổi. Tôi đã cố gắng để là một học viên tốt, nhưng do tôi đã biết quá nhiều nên thay đổi là rất khó khăn”.

Phạm Xuân Ẩn không phản đối việc ông đi học chính trị một năm. Trong năm đó, ông đã được gặp nhiều người thú vị, họ luôn tò mò muốn biết về những sự trải nghiệm của ông và Phạm Xuân Ẩn luôn thích thú chia sẻ những câu chuyện với nhiều học viên trong lớp của mình. Phạm Xuân Ẩn nói: “Nhiều người ở chế độ mới coi tôi là quá Mỹ và là tư sản, vì vậy tôi được chờ đợi phải nói như những người mácxít sau một vài tháng nghe giảng và thảo luận. Tôi có rất nhiều điều để học và cố gắng điều chỉnh mọi thứ, từ cách nghĩ, cách hành động, và thậm chí cả cách nói đùa. Tôi hiểu mọi người muốn gì nên tôi đã cố gắng”.

Sau khi kết thúc khóa học, Phạm Xuân Ẩn trở về TP.HCM. Chính quyền mời Phạm Xuân Ẩn vào làm việc tại một cơ quan kiểm duyệt nhưng ông từ chối. Sau đó ông được đề nghị đào tạo các nhà báo, nhưng ông nghĩ về mặt thực tiễn đó là điều không thể, ông có thể dạy được gì cho các nhà báo VN về nghề của ông… Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi được sinh ra ở VN, tôi là người VN, nhưng tôi học được sự văn minh ở nước Mỹ. Đây là điều rắc rối của tôi”.

Phạm Xuân Ẩn không có sự lựa chọn nào khác ngoài làm công việc mà như ông mô tả là “một ông chồng nội trợ”. Ông thường hài hước nói về mình là một “triệu phú thời gian”. Suốt ngày ông đọc sách, nghe đài BBC và làm những việc lặt vặt cho vợ. Ông cũng trở thành nổi tiếng là người huấn luyện gà chọi giỏi nhất Sài Gòn.

Bạn cũ và những tin đồn vu vơ

die[-vien

Hồ sơ “Phạm Xuân Ẩn – điệp viên hoàn hảo” được Tuổi Trẻ trích từ Điệp viên hoàn hảo (Perfect spy) của Larry Berman, bản quyền của Nhà xuất bản Thông Tấn. Sách đã được phát hành trên toàn quốc từ ngày 1-10-2007.

Và mặc dù đã qua một khóa học, Phạm Xuân Ẩn vẫn khó khăn trong quá trình hòa nhập với chế độ mới cũng như vẫn còn những vấn đề về độ tin cậy. Việc ông Phạm Xuân Ẩn không được tiếp xúc với những đồng nghiệp cũ của mình đã làm dấy lên những tin đồn vu vơ giữa những đồng nghiệp cũ về vị trí của ông trong chế độ mới.

David De Voss, cựu Trưởng phân xã tạp chí Time phụ trách khu vực Đông Nam Á, đã trở lại TP.HCM năm 1981. Sau chuyến đi này, David De Voss viết cho đồng nghiệp Karsten Prager: “Tôi đã cố tìm gặp ông ta trong thời gian năm ngày tôi ở Sài Gòn, nhưng ông ấy đã từ chối. Không cuộc tiếp xúc nào được phép đối với những người biết nhau trước giải phóng”.

De Voss sau này còn nói một điều khiến mọi người rất ngạc nhiên là năm 1981, Phạm Xuân Ẩn đã đề nghị De Voss giúp bí mật đưa gia đình ông ra khỏi Việt Nam. De Voss kể: “Mục đích của tôi là đi tìm Phạm Xuân Ẩn, nhưng đó là việc không dễ. Phạm Xuân Ẩn dặn tôi không nói hoặc làm bất cứ điều gì khi chúng tôi nhìn thấy nhau, bởi vì an ninh có thể đang theo dõi. Rõ ràng ngay cả ông, người được phong danh hiệu anh hùng đang phụ trách về tình báo đối ngoại cho Chính phủ, cũng không tránh khỏi việc bị theo dõi.

Chợ chim, trên thực tế là một đoạn đường phố hai bên treo đầy những lồng bằng tre nhốt những con chim đang hót véo von. Phạm Xuân Ẩn đến chợ chim cùng với con chó Đức của ông. Chúng tôi đi ngang qua nhau rồi khẽ gật đầu. Sau đó, Phạm Xuân Ẩn và tôi mỗi người lên một chiếc xích lô. Tôi theo Phạm Xuân Ẩn về nhà ông. Khi hai người đã vào trong nhà, Phạm Xuân Ẩn kể rằng trước đây ông đã từng hai lần cố gắng đưa gia đình ra nước ngoài, nhưng không thành công. Lần thứ nhất thuyền bị hỏng máy. Lần thứ hai thuyền có vẻ đủ sức vượt biển, nhưng thuyền trưởng lại không ra…”.

Năm 1986, ngọn gió đổi mới thổi tới khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI Đảng Cộng sản VN phát động công cuộc đổi mới. Năm 1988, Bob Shaplen (phóng viên lâu năm của tờ New Yorker) đến TP.HCM và đề nghị gặp Phạm Xuân Ẩn. Lần đầu tiên, cơ quan an ninh cho phép gặp với điều kiện có một thành viên của Bộ Ngoại giao cùng dự. Khi cuộc gặp của họ sắp kết thúc, Phạm Xuân Ẩn xin phép người bạn của ông làm việc tại Bộ Ngoại giao rằng liệu ông và Shaplen có thể đi ăn tối riêng với nhau được không và được đồng ý.

Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: “Chúng tôi tới ăn tối tại khách sạn Majestic. Đó là lần đầu tiên tôi được phép nói chuyện một mình với một người bạn cũ kể từ khi chiến tranh kết thúc”.

Chỉ trong vòng vài tháng sau đó, các đồng nghiệp cũ của Phạm Xuân Ẩn là Neil Sheehan, Stanley Karnow, Robert Sam Anson và Morley Safer đã đến TP.HCM thăm ông. Chính trong bối cảnh này mà một câu chuyện đáng lưu ý được giãi bày liên quan đến những mối quan hệ tình bạn giữa những đồng nghiệp cũ, giấc mơ của người cha đối với con trai lớn, và sự hòa hợp giữa hai đất nước mà Phạm Xuân Ẩn đều yêu quí.

tuoitre.vn

LARRY BERMAN (Nguyễn Đại Phượng)

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 9: Người 30 năm cách mạng

“Tôi không biết liệu mình có được gặp lại vợ con lần nữa hay không. Tôi còn có nhiều bạn bè, họ cũng không thể đi được và tôi cũng không biết điều gì đang xảy ra đối với họ nữa”

Lúc đầu, gia đình Phạm Xuân Ẩn bay sang Guam, rồi ở đó một tuần để chờ xem ông Ẩn có sang cùng với gia đình không.

Phạm Xuân Ẩn vẫn giữ liên lạc với vợ ông – bà Thu Nhàn – qua máy telex của văn phòng tạp chí Time. Cuối cùng, ông khuyên vợ chấp nhận lời mời và sự giúp đỡ của tạp chí Time chuyển gia đình sang Mỹ.

Gia đình Phạm Xuân Ẩn đáp máy bay đi Fort Pendleton, California. Do đã được tạp chí Time bảo lãnh nên thủ tục được thông qua nhanh chóng, sau đó họ chuyển đến Virginia. Tạp chí Time đài thọ mọi chi phí, ngoài ra mỗi tháng còn trả 700 USD tiền lương cho bà Thu Nhàn. Các cháu tuổi 12, 11, 10 và 8 đều được bố trí vào học tại Trường tiểu học Patrick Henry.

pham-xuan-an-20

Còn có điều đáng sợ nữa là sau khi chiến tranh đã kết thúc, các hoạt động tình báo bí mật của chồng bà được công khai, trong khi bà và các con đang sống ở bên Mỹ, sự an toàn của mẹ con bà có thể bị quấy rầy bởi cộng đồng những người di tản chống cộng đến tận xương tủy. Bà cũng không biết Hà Nội có ra lệnh cho ông Phạm Xuân Ẩn tiếp tục nghề tình báo ở Mỹ hay không. Tương lai chẳng rõ ràng gì.

Những ngày bối rối

Tại Sài Gòn, Phạm Xuân Ẩn cũng buồn và lo lắng. Sau vài ngày ở khách sạn Continental, Phạm Xuân Ẩn và mẹ về sống ở nhà. Phạm Xuân Ẩn phải ra trình diện trước các nhà chức trách địa phương.

Ông điền vào tờ khai nghề nghiệp là nhà báo, làm việc cho tạp chí Time. Đầu tháng 5-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bay từ Hà Nội vào Sài Gòn, đến dinh Độc Lập để dự một cuộc họp với tướng Trần Văn Trà, chỉ huy các lực lượng vũ trang của Mặt trận dân tộc giải phóng.

Tướng Trần Văn Trà vừa được bổ nhiệm làm chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố. Lúc đó, ông Ẩn ở cách dinh Độc Lập không xa, đang phải lo lắng cho sự an toàn của chính mình dưới chế độ mới.

Giờ đây, Phạm Xuân Ẩn thật sự theo nghĩa đen là người của tạp chí Time ở Sài Gòn, giữ mối liên hệ với các đồng nghiệp cũ và đang đóng góp bài vở cho số báo sau 30-4 của tạp chí Time. Phạm Xuân Ẩn gửi bằng telex bức điện tới New York: “Tất cả các phóng viên Mỹ đã di tản vì tình trạng khẩn cấp. Văn phòng tạp chí Time hiện nay do Phạm Xuân Ẩn điều hành”.

Mỗi buổi sáng, Phạm Xuân Ẩn đến văn phòng tạp chí Time làm việc. Tại đây “các lực lượng giải phóng” đã cử một người đến giám sát, kiểm duyệt Phạm Xuân Ẩn. “Tất cả chỉ có một mình tôi, trừ người giám sát. Ông ta không phải là người khó tính, nhưng là một người kiểm duyệt khắt khe. Sau vài tuần, chẳng có tin bài nào được gửi đi” – Phạm Xuân Ẩn nói với tôi như vậy.

Bài báo cuối cùng của Phạm Xuân Ẩn phát đi được đăng trên tạp chí Time số ra ngày 12-5 mang tựa đề “Cuộc chia tay cuối cùng nghiệt ngã”. Bài báo viết: “Hình ảnh cuối cùng về cuộc chiến tranh: những người lính thủy đánh bộ Mỹ dùng báng súng giáng xuống những ngón tay của nhiều người VN đang cố bám tường tìm cách vào được bên trong khuôn viên tòa đại sứ Mỹ để chạy trốn khỏi đất nước họ. Một không khí lộn xộn, bừa bãi chẳng khác nào cảnh mô tả trong kinh khải huyền – một số kẻ cướp ngày lái những chiếc xe hơi của sứ quán bỏ lại chạy như điên quanh thành phố cho đến khi hết sạch xăng…”.

Vài tuần sau ngày giải phóng, có người của lực lượng an ninh chế độ mới đến gặp ông và nói: “Ông thì OK”. Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: “Ông ta chỉ nói có vậy. Nhưng tôi hiểu tôi được an toàn rồi”.

Tài liệu về danh tánh thật của Phạm Xuân Ẩn cuối cùng cũng đã được chuyển đến. Phạm Xuân Ẩn được xác nhận là “người 30 năm cách mạng” – một thuật ngữ được dùng để nói về những người đã tham gia đánh ngoại xâm trong ba thập kỷ qua.

Phạm Xuân Ẩn được chính thức chuyển sang bên thắng trận, điều này dễ nhận thấy vì số lượng gạo của ông được tăng thêm, được cấp phát quân phục hàm đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đây cũng là thời gian đặc biệt bối rối đối với ông Phạm Xuân Ẩn cùng với rất nhiều bạn bè bởi họ cho rằng tương lai không mấy sáng sủa. Ông Ẩn nói: “Nhiệm vụ tình báo của tôi về mặt kỹ thuật đã hoàn thành, đất nước tôi đã được thống nhất và người Mỹ đã phải rút về nước. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa thể nói được với mọi người về sự thật. Tôi vẫn đang phải sống trong cô đơn và lo lắng. Vợ con tôi vẫn đang ở Mỹ. Tôi không biết liệu mình có được gặp lại vợ con lần nữa hay không. Tôi còn có nhiều bạn bè, họ cũng không thể đi được và tôi cũng không biết điều gì đang xảy ra đối với họ nữa”.

Trở về nhà thôi

Nhân viên an ninh chế độ mới đặt vấn đề về những hành động của Phạm Xuân Ẩn hôm 30-4-1975 đã giúp đỡ bác sĩ Trần Kim Tuyến kịp lên chuyến máy bay trực thăng cuối cùng để di tản.

Phạm Xuân Ẩn đã kể lại hết sự việc cho các nhân viên an ninh nghe, ông nói rằng việc làm của ông chỉ là một cử chỉ nhân đạo, nhưng bên phía an ninh vẫn chưa tin: Phạm Xuân Ẩn nói rằng ông và Trần Kim Tuyến là bạn của nhau, nghĩa là thế nào? Bạn bình thường hay là bạn trong công việc?

Phạm Xuân Ẩn phải viết tường trình về các chi tiết của việc Trần Kim Tuyến trốn thoát. Ông cũng nhận được chỉ thị phải tiết lộ tên của các mối quan hệ và nguồn tin của ông trong thời gian chiến tranh mà ông có được khi đang làm việc với tư cách nhà báo của tạp chí Time.

Phạm Xuân Ẩn đã cung cấp đầy đủ nhất theo khả năng liên quan đến mọi chi tiết về bác sĩ Trần Kim Tuyến. Tuy nhiên, về những mối quan hệ của mình trong 15 năm trước đó thì ông nói trí nhớ của ông rất tồi.

Càng nghĩ về Phạm Xuân Ẩn, cơ quan an ninh càng có nhiều câu hỏi về việc tại sao ông Ẩn tồn tại được với tư cách là một điệp viên trong thời gian dài như vậy. “Mọi người nghĩ rằng tôi được ai đó trong CIA bảo vệ, vì không ai có thể may mắn đến như vậy” – ông Ẩn kể.

Cuối tháng 3-1976, Phạm Xuân Ẩn được khuyên nên gọi gia đình trở về nước. Đối với nhiều người bạn của ông, cũng như các nhân viên trước đây làm việc cho tạp chí Time, đây là tín hiệu đầu tiên cho thấy Phạm Xuân Ẩn có thể đã từng làm việc cho phía bên kia.

Phải nói lời chia tay đối với những người bạn Mỹ mới của mình là điều rất khó khăn đối với những thành viên gia đình Phạm Xuân Ẩn. Bà Thu Nhàn có mối lo ngại riêng của mình khi trở về nước. Bà chỉ nhận được một bức điện của ông Ẩn vẻn vẹn có mấy từ: “Trở về nhà thôi”.

Bà Thu Nhàn không hề biết gì về tình trạng của Phạm Xuân Ẩn ở VN, nên bà phải nghĩ ra một cách để đưa các con về nước mà không gây ra quá nhiều nghi ngờ. Đầu tiên, bà Thu Nhàn tới Liên Hiệp Quốc để xin phép được đi du lịch sang Pháp.

Sau đó bà và các con đáp máy bay từ Washington đi Paris, nhưng ở lại Paris trong ba tháng vì Việt Nam chưa cho phép mở đường bay thẳng từ Paris đi Hà Nội, cũng như chẳng có đường bay thẳng nào đến Sài Gòn.

Một khi đã tới Pháp, bà Thu Nhàn xin phép được đưa bốn con về nước “để đoàn tụ với chồng, vì hòa bình đã được lập lại trên đất nước VN”. Cuối cùng, bà Thu Nhàn quyết định bà phải trở về nước với hi vọng rằng bức điện ngắn của Phạm Xuân Ẩn gửi cho bà trước đây là bức điện thật và rằng chồng bà vẫn an toàn. Bà Thu Nhàn và các con đáp máy bay từ Paris đi Matxcơva và sau đó về Hà Nội. Từ Hà Nội, họ đi tiếp vào Sài Gòn bằng xe hơi.

Khoảng tháng 9-1976, bắt đầu có lời đồn đại về cuộc đời bí mật của Phạm Xuân Ẩn. Việc bà Thu Nhàn trở về Sài Gòn chứng tỏ Phạm Xuân Ẩn là một người của lực lượng giải phóng, hoặc ít nhất cũng là một người có cảm tình với Hà Nội và Hà Nội đã có cái nhìn thiện cảm đối với ông.

LARRY BERMAN
(Nguyễn Đại Phượng dịch)

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 8: Tháng 4 lo âu của điệp viên vĩ đại

Khi cuộc chiến ác liệt đến hồi kết thúc, thì thời gian tháng 4-1975 cũng là khoảng thời gian mà vị điệp viên vĩ đại của chúng ta âu lo nhất.

pham-xuan-an-1

“Tôi muốn ở lại đây”

Tháng tư là tháng đầy lo âu đối với Phạm Xuân Ẩn, vì ông rất lo cho sự an toàn của gia đình và bạn bè mình. Ông nói: “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ di tản sang Mỹ, nhưng tôi cứ băn khoăn không biết có nên đưa vợ con sang đó không. Tôi không nhận được một hướng dẫn, chỉ thị nào từ Hà Nội, trong khi tôi luôn bị sức ép từ phía tạp chí Time thúc giục phải quyết định sớm”. Phạm Xuân Ẩn không bao giờ bỏ mặc mẹ mình ở Sài Gòn, tuy nhiên ông vẫn lo rằng có thể ông sẽ nhận được chỉ thị của Đảng phải đi di tản cùng với người Mỹ. Điều đó có nghĩa ông sẽ phải tiếp tục sứ mạng của mình tại Mỹ, mà về mặt cá nhân, ông không hề muốn. Một ngày sau khi Nguyễn Văn Thiệu di tản, vợ và bốn con của ông Phạm Xuân Ẩn đáp chuyến bay của Hãng truyền hình Mỹ CBS News rời Sài Gòn cùng với 39 nhân viên khác của tạp chí Time.

Có một điều mà Phạm Xuân Ẩn không hề biết, đó là vào thời điểm ấy đang có một sự cân nhắc rất nghiêm túc của Quân ủy Trung ương thuộc Bộ Chính trị về việc có nên để cho ông tiếp tục công tác tình báo của mình tại Mỹ hay không. Chính đại tướng Văn Tiến Dũng cuối cùng đã quyết định nên để Phạm Xuân Ẩn ở lại Việt Nam: “Nếu Phạm Xuân Ẩn tiếp tục công tác đó, chắc chắn ông ấy sẽ thu được nhiều thông tin tình báo có giá trị cho đất nước. Tuy nhiên, sớm muộn gì ông ấy cũng bị lộ ở nước ngoài và như vậy tổn thất sẽ rất lớn”.

Người từng tuyển mộ Phạm Xuân Ẩn làm tình báo viên là ông Mười Hương thì tỏ ra tiếc đối với quyết định này: “Khả năng của Phạm Xuân Ẩn sẽ được phát huy tối đa nếu được tiếp tục công tác tình báo ở nước ngoài”. Tôi hỏi ông Mai Chí Thọ về ý tưởng tiếp tục để ông Phạm Xuân Ẩn hoạt động tình báo ở nước ngoài, ông Mai Chí Thọ nói: “Về mặt nghiệp vụ mà nói, đó là một ý tưởng hay. Vỏ bọc ấy vẫn còn nguyên vẹn, ông ấy lại được người Mỹ tin cậy. Phạm Xuân Ẩn đã sẵn sàng, nhưng còn các điều kiện khác nữa. Ông ấy đã làm việc quá nhiều rồi”.

Tại Sài Gòn, người ta lan truyền khắp nơi tin đồn rằng khi quân giải phóng vào thành phố sẽ có một cuộc tắm máu. Phạm Xuân Ẩn sợ ở nhà vì biết đâu đạn pháo có thể rơi trúng nhà mình. Nhưng ông đã được cho biết riêng về một thực tế rằng những người cộng sản đã xác định ba nơi an toàn, đó là Đại sứ quán Pháp, Bệnh viện Grall và khách sạn Continental của Pháp. Ông quyết định tốt nhất là cùng mẹ đến ở tại khách sạn Continental.

Phóng viên ảnh tạp chí Time – Life Dick Swanson vừa từ nhà anh ở Bethesda, bang Maryland (Mỹ) trở lại Sài Gòn. Đã gần trọn hai ngày đêm Swanson không được ngủ khi ông đến gặp Phạm Xuân Ẩn tại văn phòng tạp chí Time. Swanson đã hỏi Phạm Xuân Ẩn một câu mà anh đã từng muốn hỏi trong nhiều năm trước đó: “Ẩn này, chiến tranh kết thúc rồi. Chúng ta đã quen biết nhau trong chín năm rồi. Anh có thể nói cho tôi biết anh là người của phía bên kia phải không?”. Phạm Xuân Ẩn đáp: “Tôi là người Việt Nam. Tôi muốn ở lại đây”. Swanson hỏi: “Sắp tới, anh có vấn đề rắc rối nào với cộng sản không?”. Phạm Xuân Ẩn trả lời: “Vào những thời điểm như lúc này, sự hiểm nguy có thể đến từ mọi phía”. Swanson nói: “OK, rất tốt khi biết rằng nếu tôi bị kẹt lại ở Sài Gòn thì còn có một trong số những người bạn tốt nhất của tôi là một người cộng sản”. Phạm Xuân Ẩn mỉm cười.

Cứu người cuối cùng

Bác sĩ Trần Kim Tuyến (nguyên là giám đốc sở nghiên cứu chính trị xã hội của phủ tổng thống) bị lỡ nhiều cơ hội để đi. Vợ ông và các con đã sang Singapore dưới sự bảo trợ của Đại sứ quán Anh. Trong 12 năm qua, ông Trần Kim Tuyến khi thì ở trong tù, khi thì bị quản thúc tại gia. Trần Kim Tuyến ở vị trí cao trong danh sách của CIA về những người di tản. Từ nhà riêng của mình, Trần Kim Tuyến tìm cách liên lạc với các sứ quán Anh, Mỹ, Pháp, cũng như với các bạn nhà báo, nhưng tất cả các đường điện thoại đều đã bị cắt. Cuối cùng, Trần Kim Tuyến nối được máy với khách sạn Continental.

Trần Kim Tuyến tới văn phòng tạp chí Time hỏi Phạm Xuân Ẩn có đi di tản không, ông Ẩn trả lời: “Không. Tạp chí Time đã đưa vợ con tôi ra khỏi đây rồi. Giờ tôi không thể nào đi được. Mẹ tôi già quá, lại ốm nữa, bà cần có tôi bên cạnh. Tất nhiên, anh phải đi”. Chuông điện thoại reo, đó là phóng viên Dan Southerland của tờ Christian Science Monitor điện thoại cho Phạm Xuân Ẩn kiểm tra về việc di tản. Trước khi ngắt lời Dan Southerland, Phạm Xuân Ẩn nói: “Dan này, chúng tôi cần anh giúp đỡ đây! Nhanh lên, xem anh có thể liên hệ với sứ quán Mỹ và bảo với họ rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến vẫn còn đang ở đây với tôi, và họ cần phải đưa ông Trần Kim Tuyến ra khỏi đây ngay”.

Dan Southerland đã liên hệ được với sứ quán Mỹ và đã nói chuyện với trưởng trung tâm CIA là Tom Polgar. Tom Polgar dặn nếu Trần Kim Tuyến không thể đến sứ quán Mỹ được thì đến ngay số nhà 22 đường Gia Long. Đó là một tòa nhà căn hộ được Cơ quan viện trợ phát triển quốc tế Mỹ sử dụng. Tầng trên cùng của tòa nhà này được phó trưởng trung tâm CIA sử dụng và lúc này được sử dụng làm bãi đỗ cho máy bay trực thăng chở người đi di tản. Tên của Trần Kim Tuyến cũng được đưa vào danh sách tại đó.

Trần Văn Đôn từng làm phó thủ tướng và bộ trưởng quốc phòng trong nội các cuối cùng của Nguyễn Văn Thiệu. Lúc Trần Văn Đôn tới được tòa đại sứ Mỹ thì tình hình ở đó lộn xộn cũng giống như khi Phạm Xuân Ẩn và Trần Kim Tuyến đến. Trần Văn Đôn được hướng dẫn đến số nhà 22 đường Gia Long, đó là cơ hội cuối cùng dành cho ông ta. Khi Trần Văn Đôn lên được đến tầng thượng của tòa nhà thì Phạm Xuân Ẩn và Trần Kim Tuyến đi xe hơi cũng vừa đến được tòa nhà. Trần Kim Tuyến đã không gặp may như Trần Văn Đôn, những người lính gác đã đóng cổng và khóa lại. Phạm Xuân Ẩn liền phanh gấp cho xe hơi dừng lại, nhảy ra quát: “Theo lệnh của đại sứ, người này phải được cho vào”. Những người lính gác trả lời rằng không một ai khác nữa được phép vào trong. Trên nóc nhà, chiếc máy bay trực thăng cuối cùng chuẩn bị cất cánh.

Nhưng khi cổng đang từ từ khép lại, Phạm Xuân Ẩn theo bản năng chạy lại dùng tay trái chặn cổng rồi lấy tay phải đẩy mạnh Trần Kim Tuyến với dáng người bé nhỏ chui qua cổng. Khe hở lúc đó chỉ còn khoảng chưa đầy nửa mét. Không có thời gian cho hai người nói lời tạm biệt và cảm ơn. Phạm Xuân Ẩn nói: “Chạy”. Cùng lúc đó, hai hàng nước mắt bỗng lăn xuống gò má ông. Trần Kim Tuyến cũng khóc và chẳng thể nói được điều gì ngoài câu: “Tôi sẽ không bao giờ quên”.

Vài thập kỷ sau, Dan Southerland nhớ lại cái ngày tháng 4-1975 ấy: “Vào cái ngày cuối cùng ấy của cuộc chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn đã giúp cứu mạng sống của một người từng ra sức chống lại những mục tiêu mà ông Ẩn đang bí mật theo đuổi và phụng sự trong suốt cả cuộc đời mình. Tôi sẽ luôn luôn nhớ tới ông Phạm Xuân Ẩn về điều đó”.

Trần Kim Tuyến sẽ không bao giờ quên những gì mà Phạm Xuân Ẩn đã làm tốt cho mình. Sau này, Trần Kim Tuyến nói với các bạn rằng ông ta chỉ tin cậy hai người hơn bất kỳ ai khác, đó là Phạm Xuân Ẩn và Phạm Ngọc Thảo. Khi biết cả hai người này đều là những điệp viên cộng sản, Trần Kim Tuyến nói rằng nhìn nhận lại quá khứ, ông ta có thể nghi ngờ Phạm Ngọc Thảo, nhưng ông không thể nào tin được Phạm Xuân Ẩn đã làm việc cho cộng sản, “Phạm Xuân Ẩn không bao giờ để lại một bằng chứng nào dù là nhỏ nhất”.

Nguồn: Tuoitre

LARRY BERMAN(Nguyễn Đại Phượng )

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 7: Lời buộc tội rõ ràng ?

Phạm Xuân Ẩn đã từng nói: “Mọi người trong Tổ chức Tình báo trung ương miền Nam Việt Nam (CIO) ai cũng nghĩ tôi là người của riêng họ. Nhưng họ thật sự chỉ là những nguồn tin tốt nhất của tôi”. Ông, người điệp viên vĩ đại. Hôm nay hãy cùng tìm hiểu kỳ 7 nhé.

pham-xuan-an

Phạm Xuân Ẩn (giữa) chụp ảnh cùng những người bạn Mỹ tại Thủ Đức, Sài Gòn

Phạm Xuân Ẩn nói với tôi rằng sau tổng tấn công Tết Mậu Thân, ông bị CIA tiếp cận mời làm việc cai quản một trại chăn nuôi bò thịt và bò sữa ở Tây Ninh, giữa chiến khu B và vùng C vốn được biết đến như là một vùng thâm nhập của Việt cộng.Những lời mời nguy hiểm

Nếu chấp nhận, Phạm Xuân Ẩn sẽ đóng vai một nông dân, trông coi công nhân và viết báo cáo, ông sẽ phải rời bỏ tạp chí Time và trở thành một điệp viên hai mang, một nghề mà ông không thích làm. Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi quyết định không xin ý kiến cấp trên của mình về việc có nên chấp nhận lời mời hay không, bởi vì tôi không thích làm việc như một điệp viên hai mang”.

Nghĩ rằng có lẽ Phạm Xuân Ẩn không thích làm một ông chủ trang trại chăn nuôi bò, nên lại chính nhân viên CIA đã từng tiếp cận ông trước đây, nay tiếp tục đưa ra gợi ý rằng Phạm Xuân Ẩn mở một nhà máy đồ hộp ở Nha Trang và Vũng Tàu.

Cũng giống như đề nghị lần trước, mục đích là để giám sát các hoạt động nếu có của Việt cộng. Nếu chấp nhận thì công việc của ông chỉ là quan sát hoạt động trong các ngư dân cập cảng để bán cá. Vì lúc đó CIA đang cố gắng xác định xem những thuyền nào sử dụng để chuyên chở vũ khí thâm nhập miền Nam. Phạm Xuân Ẩn cũng nhanh chóng khước từ lời mời này.

Một lời mời gây tò mò khác do CIO đưa ra với Phạm Xuân Ẩn ngay sau sự kiện ký kết Hiệp định Paris năm 1973. Biết rằng phái đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời đang ở tại một khách sạn gần đó, nay là khách sạn Hyatt, CIO liền ấp ủ một kế hoạch đặt thiết bị điện tử nghe trộm tiệm cà phê Givral. CIO tin chắc sẽ thu được những thông tin quí giá từ các cuộc chuyện trò của các đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời liên quan đến các kế hoạch thành lập “chính phủ liên hợp” của họ.

Givral là tiệm cà phê của tư nhân nên CIO muốn vợ ông Phạm Xuân Ẩn – bà Thu Nhàn – đứng ra mua lại tiệm cà phê Givral bằng tiền của CIO. Phạm Xuân Ẩn không muốn tham gia phần nào trong kế hoạch này, tuy nhiên việc đặt máy nghe trộm tiệm cà phê Givral vẫn được tiến hành. Theo đó, một phần của tiệm cà phê Givral sẽ được sửa chữa nâng cấp thành quầy kem và cà phê sữa nhằm che đậy mục đích thực sự là đặt thiết bị nghe trộm. Phạm Xuân Ẩn nói: “Đó là cách dễ bị bắt”.

Hầu hết các đồng nghiệp của tôi đều cho rằng có những lúc này lúc khác, Phạm Xuân Ẩn có thể cũng đã từng làm việc trong một số vai trò nào đó cho CIA. Richard Pyle, trưởng phân xã Hãng tin AP tại Sài Gòn từ năm 1970 – 1973, nhớ lại rằng hằng ngày từ chiếc bàn quen thuộc của Phạm Xuân Ẩn ở trong tiệm cà phê Givral, “Phạm Xuân Ẩn chia sẻ các mẩu tin, những phân tích về tình hình chính trị cho các phóng viên người Việt làm việc cho các tòa báo và hãng thông tấn nước ngoài. Đội quân báo chí thường hay nói đùa rằng bất cứ ai có liên hệ với Phạm Xuân Ẩn chắc phải là người của CIA”.

Ai cũng biết trong các tổ chức công đoàn lao động thân chính phủ có đầy người của cộng sản. Một nhân viên CIA hỏi Phạm Xuân Ẩn rằng ông có muốn làm việc dưới vai trò ngụy trang là chuyên trách đưa tin về công đoàn hay không, nếu đồng ý chỉ cần ông để mắt tới những hoạt động đáng nghi vấn của Việt cộng là đủ.

Đổi lại, CIA sẽ cung cấp cho Phạm Xuân Ẩn những thông tin gây chấn động nhằm tạo điều kiện cho ông nâng cao uy tín của mình tại tạp chí Time. Phạm Xuân Ẩn nói với tôi rằng ông đã từ chối lời mời này của CIA, viện cớ ông đã có những nguồn tin tốt rồi, nhưng thực tế ông biết rõ làm công việc đó là quá nguy hiểm cho vỏ bọc của ông.

Cuốn sổ tay bảo mật

Phạm Xuân Ẩn cảm thấy đau đớn bởi lá thư của một đồng nghiệp tạp chí Time trước đây tên là Zalin Grant viết năm 2005 gửi cho tờ New Yorker. Trong lá thư này, Zalin Grant đã buộc tội Phạm Xuân Ẩn thế này:

Trong khi làm gián điệp cho Bắc Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn đã biến các phóng viên của tạp chí Time thành một mạng lưới tình báo không cố ý cho Hà Nội. Tạp chí Time có các nguồn tin cao cấp thường cung cấp những thông tin mật với điều kiện phải được giữ kín và chỉ được sử dụng để hiểu bối cảnh. Nội dung của các cuộc thông báo tin tức bí mật được lưu hành nội bộ trong một ấn phẩm gọi là sổ tay tạp chí Time. Đó là những báo cáo của người trong cuộc từ Nhà Trắng, từ Bộ Ngoại giao và từ Lầu Năm Góc. Cuốn sổ tay này được lưu hành đến các phân xã của tạp chí Time trên khắp thế giới cùng những điều kiện thận trọng về bảo mật. Với tư cách phóng viên tạp chí Time, Phạm Xuân Ẩn đã tiếp cận được tài liệu này”.

Frank McCulloch (trưởng phân xã tạp chí Time tại Sài Gòn những năm 1960) rất thất vọng về những lời buộc tội nói trên đối với Phạm Xuân Ẩn, đến mức ông phải viết một bài về quan điểm riêng của mình để gửi cho báo New Yorker.

Bài của McCulloch không được đăng, nhưng tác giả đã gửi cho tôi một bản sao như sau: “Việc trước đây và hiện nay tôi vẫn tôn trọng Phạm Xuân Ẩn không có liên quan gì đến việc ông ấy là một người cộng sản; và tất cả những gì thuộc sự toàn vẹn của ông, nghề tình báo của ông và tình yêu nước cháy bỏng của ông.

Nhất định là tôi không có lý do gì để nghi ngờ ông vì hai lý do. Một là, những bài viết của Phạm Xuân Ẩn chưa bao giờ gợn lên điều gì trùng hợp với quan điểm của cộng sản – và tôi tha thiết mong rằng những hồ sơ cũ được thanh tra để kiểm chứng điều đó.

Hai là, bây giờ giả thiết ngược lại rằng không phải Mỹ đưa nửa triệu quân vào Việt Nam nữa, mà là hơn nửa triệu lính Việt Nam đổ dồn về một khu vực rộng bằng California – một bang của Mỹ có diện tích tương đương Việt Nam – và chúng ta không tin cái lý do họ đưa ra về sự có mặt của họ ở đó, chúng ta sẽ phản ứng thế nào?

Đó là đất nước của ông ấy chứ không phải là đất nước của chúng ta, nhưng mỗi một sai lầm đều khiến chúng ta phải trả giá đắt. Trước đây tôi đã không, và hiện nay vẫn không tán thành hệ tư tưởng của ông Phạm Xuân Ẩn, nhưng tôi từ chối thay đổi niềm tin của mình rằng Phạm Xuân Ẩn có toàn quyền giữ hệ tư tưởng của ông”.

_______________

Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Phạm Xuân Ẩn nghĩ rất nhiều về sự an toàn của mình, của gia đình và bạn bè mình.

Tuoitre

LARRY BERMAN

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 6: Tuổi trẻ vật lộn với cam go

Ở phần trước chúng ta đã tìm hiểu kỳ 6: Làm báo không phải là đội lốt. Vậy ở phần này hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về con người ông, tuổi thanh xuân của ông.

Tuổi thanh xuân của ông vật lộn với những cam go, với sống còn, với lòng can đảm hy sinh, sự lựa chọn con đường. Gay go khủng khiếp, cần sự quật cường…

Những năm 60, khi ông Phạm Xuân Ẩn bắt đầu trở thành phóng viên của Việt Nam Press Reuters; 1964-1965 là phóng viên của the New York Herald Tribune, rồi tuần báo Time từ 1965-1976; xã hội miền Nam đầy những biến cố. Hàng chục vạn lính Mỹ và chư hầu đổ vào. Nạn đĩ điếm “bùng phát” đến nỗi thượng nghị sĩ Mỹ J. William Fulbright, trưởng ban đối ngoại Thượng viện Quốc hội Hoa Kỳ đi Nam Việt Nam năm 1966 về nước đã nói rằng: Mỹ đã biến Sài Gòn thành một nhà chứa khổng lồ.

Trên tờ Le Monde của Pháp có bài viết về một Sài Gòn ngập ngụa trong ba làn sóng: bán dâm, tham ô và nạn chợ đen. Người ta nói rằng chính phủ thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ thành lập một công ty kinh doanh nghề mại dâm. Còn tổng trưởng Bộ Xã hội thì khoe: Nghề gái điếm phát triển tới mức trở thành một trong những nghề có tổ chức tốt nhất.

Sài Gòn, nơi lương tâm và lòng yêu nước không bao giờ lắng, đã có cả một phong trào đấu tranh chống văn hóa đồi trụy và nô dịch của Mỹ, bảo vệ thuần phong mỹ tục Việt Nam.

pham-xuan-an-ky-6

Trong tình hình ấy, riêng chỉ là một nhà báo, ông Ẩn phải “lặn sâu” vào mọi giới trong xã hội. Ông không chỉ quen với đám xì ke ma túy tới độ qua xem họ chích trên đường Lê Lai, chơi với cả ông trùm. Ông tận mắt quan sát họ trong tình trạng ngà ngà hoặc thiếu thuốc, vật vã. Lâu lâu ông cũng viết những bài điều tra xã hội, mặc dù công việc chính của ông là một chuyên gia về phân tích chính trị, quân sự và chuyên viết chiến tranh.

“Tôi có nhiều tên lắm. Họ gọi tôi là chuyên viên đảo chính vì luôn viết về quân sự, về biến cố chính trị và các cuộc đảo chính. Là “tiến sĩ Cách mạng” cũng vì chuyên viết về các đổi thay thời cuộc”. Ông cũng có cái tên giảng viên sinh lý cho các cô “tứ thời” thường đến ngồi bàn với ông Ẩn tại “đại học Continental” (nhà hàng) chờ khách. Tên là “bác sĩ chó” vì Ẩn biết chữa bệnh cho chó của các bà bạn đầm. “Tôi nhiều tít lắm” – Ông Ẩn còn kể ra thêm một cái tên lạ người ta đặt cho là “giáo sư Sexology”: Lúc chiến sự tạm yên, để đổi đề tài, ông hay viết về các cô gái điếm, vũ nữ. Thời đó, nhân viên bảo vệ thuần phong mỹ tục hay bắt các cô vũ nữ lố lăng và họ thường biết ơn vô cùng “ông nhà báo” hào hiệp, có uy đã quen cò mà xin tha cho các cô. Không chỉ dân xì ke ma túy có thể nói dóc với ông ngay bên bàn đèn, khi ông ngồi coi người ta tiêm thuốc, Ẩn còn được các cô vũ nữ giúp kể nhiều chuyện về cuộc sống đưa đón khách để làm tài liệu viết bài. Ông có thể kể cho bạn đọc cuộc sống các cô ra sao khi lấy Mỹ, nếu rủi có con không nuôi được thì cho ở đâu. Cũng có khi ông đi cùng ký giả Mỹ làm các cuộc phỏng vấn tận Quy Nhơn.

“Những ký giả kiểu đó, an ninh bám theo ngay”, ông Ẩn nhớ lại chuyến đi cùng một nữ ký giả Mỹ vào đúng thời gian quân Mỹ bị tấn công lẻ ở bất cứ chỗ nào. Phong trào diệt Mỹ của quân dân ta đang lên cao. Những ổ gái điếm cũng có lúc gặp khó khăn, ế hàng vì lính Mỹ được lệnh cấm vào những chỗ đó nguy hiểm. Việt Cộng thường tận dụng diệt Mỹ trong các sào huyệt ăn chơi, lơ là mất cảnh giác. Trong chuyến công tác đó, ký giả Ẩn ở tại nhà tỉnh trưởng còn nữ ký giả Mỹ ở nhà một tướng Mỹ. Khi thâm nhập thực tế, họ đi dọc theo các Snack-bar, tiệm nước dọc bờ biển, hỏi chuyện các cô nàng đang ế khách. Ngồi trong tiệm, lâu lâu thấy bóng lính Mỹ, một cô mời gọi: “Come on, boy, no vi-xi, no vi-đi (V.C – Việt Cộng; V.D – Venereal Diseases). V.D là tên của bệnh giang mai khó chữa. Lúc đó thuờng được gọi là bệnh Okinawa do lính Mỹ bên đó mắc phải và đã nhờn với kháng sinh thường dùng. Kháng sinh chữa không ăn thua. Vì sao ký giả đi kiểu đó bị an ninh “bám?”

“An ninh rất sợ ký giả phản ánh thực trạng tồi bại của xã hội. Họ đi theo giải thích cho ký giả hiểu là đừng có viết những mặt trái đó”. Chẳng qua là chuyện xã hội bình thường, đừng viết nhá! Đời sống khó khăn. Nông thôn ra. Bị gạt. Nhưng đâu phải vậy. Làm sao lừa được người ký giả đã biết rõ mọi điều. Ăn chơi của đám có tiền đã lên đến đỉnh cao: họ phải hoán đổi cả gái nhảy từ Hồng Kông, đổi món. Ở Sài Gòn, trong các nhà hàng Mỹ Cảnh, Tự Do, Chợ Lớn… dân chơi không còn thích nhảy với vũ nữ quen. Chuyện này một ông bạn của Ẩn đã gặp trong một chuyến đi Hồng Kông. Người bạn đó không biết nhảy đầm nhưng được mời vào phòng khiêu vũ. Đụng một cô vũ nữ không nhớ là ai, vậy mà cô ta reo lên “Hà, anh Hải ở Xây Cung (tức Sài Gòn) mới qua hả?” Hỏi cô ta làm gì ở đây, cô nói “Đổi qua. Mai mốt chuyển về Xây Cung lớ”.

Ông Ẩn hay kể chuyện trào phúng về cái nghề làm báo của mình. Câu chuyện vui ông nói là của Mỹ hẳn hoi khỏi ai chê trách. Con của ký giả nọ một hôm đi học, cô giáo hỏi ba làm nghề gì? Nhà báo. Báo nào con không biết. Con về hỏi ba, cô hỏi ba bạn, bạn nào trả lời cô cũng hiểu. Bác sĩ, biết khám bệnh. Luật sư, giáo sư, lái xe cô đều hiểu cả, chỉ có nhà báo là con cũng không biết giải thích thế nào. Mẹ nói: giải thích dễ lắm. Con mẹ nào đó, thằng cha nào đó không làm được nghề gì hết vì không có bằng cấp. Luật sư, bác sĩ, lái xe phải có bằng. Thằng này không có bằng cấp nào nên nó không làm được gì hết đành đi làm báo. Viết sao cho người ta đọc được thì viết. Nó làm mấy nghề khác không được.

Những chuyện kiểu “tiếu lâm” ấy ông Ẩn nói về nghề mình vừa có chất tinh nghịch lại như có một chút gì đó giải thích cho những gì “kỳ cục” mà ông đã sống qua. Nói như chế giễu vậy nhưng ông yêu nghề báo lắm, hết lòng với nghề. Rồi như nó “vận” vào ông thật, đứa con gái của ông đi học lớp hai, cũng được hỏi rằng ba làm gì. Nó giải thích nghề ký giả của ba như sau: Thấy ba toàn ra tiệm ngồi ăn, tán dóc, tới tháng mấy ông Mỹ trả lương cho ba đem về cho má đi chợ!

Ông giải thích thêm: đã là ký giả hồi đó thì thấy biểu tình, có chém chết nó cũng chụp ảnh viết bài. Thượng vàng hạ cám cái gì đám báo chí cũng tìm biết. Vì thế an ninh nó theo là phải: ký giả tụi tôi có “mùi hôi tanh” ngửi thấy từ xa. Phải chăng ông đang nhớ lại những tháng năm lăn lộn với nghề, vừa làm một nhà báo giỏi thực sự cho tòa báo của mình, vừa có thể từ vị trí nhà báo được tin cậy mà có nhiều nguồn trung gian quan trọng lấy được tin tức cho cuộc chiến đấu của dân tộc mau thắng lợi.

Ngày nay, chúng ta sống ở một thời đại mà thông tin, báo chí phát triển đến mức con người lại phải đối mặt với sự loạn tin tức, chắc hẳn có người sẽ mỉm cười khi nhìn về thời gian làm báo của quá khứ. Nó có vẻ đơn giản? Hay là mọi sự đã tiến lên nhanh quá? Khi các nhà báo phương Tây đã từng hành nghề ở Sài Gòn nay trở lại chốn xưa, họ cũng đã phải kinh ngạc miêu tả sự biến đổi của đất nước này. Chi tiết cỏn con về người con trai một chủ tiệm café chìa cuốn bài tập Oxford nhờ chỉ cách dùng điều kiện cách, một thanh niên dọn cây đổ cũng biết đài VOA đêm qua giảng đến bài số mấy – chi tiết cỏn con đó khác xa với hình ảnh đất nước này khi xưa họ biết.

Tác giả Edith Lederer lái xe từ Sài Gòn ra Đà Nẵng cố tìm các đài kỷ niệm chiến tranh xưa và ông đã nhận ra rằng căn cứ quân sự Đà Nẵng của thủy quân lục chiến năm 1965 đã biến mất trước vẻ nhộn nhịp của một trung tâm thương mại lớn của thành phố đang mọc lên. “Căn cứ Mỹ tại Biên Hòa nay trở thành một đống xà bần to quá xá và The Brinks, căn cứ Mỹ cuối cùng tại Sài Gòn, nay sắp bị san bằng”.

Họ có thể trở lại đất nước này, ngửi lại không khí sặc mùi xăng không phải của chiến trận, mà là cái bệnh ô nhiễm của xứ sở phát triển biến đổi nhanh. Họ có thể thấy sân thượng của Continental, nơi ngày xưa những phóng viên nước ngoài viết chiến tranh lui tới, nay ở đó có bán Pizza. Khách sạn Hoàng Gia chốn tiêu hoang của dân nhà báo xưa, nay là nơi bán kem Ý. Khá nhiều người Mỹ và phương Tây giờ đây lái xe, du khảo, chạy vì hòa bình trên con đường quốc lộ, mà “adrenalin trong cơ thể không còn phải lên từng cơn qua mỗi khúc quẹo như thời chiến tranh không có Việt Cộng phục kích thì cũng có Mỹ ném bom”. Thậm chí Peter Arnett còn nhận xét rằng để kinh doanh du lịch, người Việt Nam không thờ ơ với cảm giác của du khách và đã “thương mại hóa cả các chiến trường” – đó là các tour đi Khe Sanh…

Thì nói làm gì, khi thời đại đã thay đổi lớn lao con người cũng gặp cả những thảm họa mới. Từ trước đến nay các chuyên gia nghĩ rằng các bệnh mới, gay cấn, thách đố nhân loại, do virus gây ra, đều bắt nguồn từ đột biến gen. Nhưng bây giờ điều đó không đáng sợ bằng ảnh hưởng của việc xã hội loài người biến đổi. Người ta lấy thí dụ một con HIV đã có từ lâu ở Châu Phi. Nó không lộng hành như những năm 70, 80, mà hàng thế kỷ nó không vượt biên giới để đi đâu cả. Những năm 60 được gọi là những năm “không vượt qua lũy tre làng”. Chỉ đến khi giao thông vận tải và du lịch phát triển, nó đã đưa mọi thứ đến.

Trước đó thì chiến tranh, sau này là mậu dịch và du lịch khiến con người từ lũy tre làng đi đến tận cùng cuối đất, nhìn thấy mọi nền văn hóa. Chỉ không đầy một thế kỷ, nhiều thứ đã thay đổi, và tốc độ của đô thị hóa, của lối sống con người, của khai thác đất đai, của du hành bằng máy bay đã thu nhanh bước của virus. Bao nhiêu là vấn nạn, bao nhiêu là lãng quên!

Thì chàng ký giả trẻ ngày ấy, nay đã ngoài 70 tuổi rồi còn gì. Tuổi thanh xuân của ông vật lộn với những cam go, với sống còn, với lòng can đảm hy sinh, sự lựa chọn con đường. Nó cũng gay go khủng khiếp, cần sự quật cường. Có thể nhìn thấy cái bối cảnh mà thế hệ ông đã sống, qua vài con số. Bức tranh còn lại là 15 triệu tấn bom đã ném xuống nay vẫn còn 300 ngàn tấn chưa nổ. 3 triệu người chết, 4 triệu người bị thương, 2 triệu người nhiễm chất độc hóa học, 170 ngàn người già mất người thân phải sống nhờ xã hội…

Nếu đứng lùi để nhìn lại bức tranh ấy, với hình ảnh một con người không mang súng đạn phải đương đầu. Ông đã như mọi người khác ở Việt Nam phải nếm trải. Nhưng cũng có thể nhìn từ một vị trí khác, góc độ khác sẽ thấy một hình ảnh của cuộc đời lạ lùng.

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 6: Làm báo không phải là đội lốt

Là một nhà tình bào vĩ đại, một phóng viên cự kỳ xuất sắc. Vậy với ông thì quan niệm chúng thế nào ? Hãy cùng đọc bài viết nhé.

Với ông, làm báo không phải là đội lốt. “Bình phong để hoạt động không phải là cái vỏ, không phải là sự đội lốt trá hình, đó không phải sự ngụy trang bên ngoài. Phải thực sự sống bằng nghề đó một cách trong sạch – Sống mãn đời nghề đó mới mong tiếp cận được mọi điều. Đó là cả một nghệ thuật sống”…

pham-xuan-an-1

Một mối hoài nghi, một câu hỏi tò mò nhất mà giới báo chí phương Tây vẫn còn hỏi ông Ẩn. Đó là câu hỏi của Morley Safer: “Họ có yêu cầu anh bịa đặt tin trên báo Time không? Chữ mà người ta thường dùng là “đưa tin thất thiệt”. Ông Ẩn trả lời: “Không. Họ đủ khôn ngoan để thấy rằng loại tin ấy dễ bị phát giác. Họ dặn đi dặn lại tôi là không làm bất cứ điều gì có thể phương hại tới công tác”. Họ đây là phía Cách mạng. “Công việc khởi đầu một cách thực sự vào năm 1960 khi ông Ẩn làm việc cho hãng Reuters. Lúc đó ông đã mang quân hàm trung đoàn trưởng, nhưng thực ra chưa bao giờ ông mặc quân phục, chưa bao giờ mang súng. Có lẽ cây súng của ông là cây viết và một cái đầu cùng con tim của người chiến sĩ. Trong những năm làm việc cho báo Time, ông đã thăng quân hàm đại tá” – Nhà báo nước ngoài viết vậy.

Trong căn phòng có vẻ hỗn độn nhưng sạch sẽ và đầy sách vở, không có “mùi bùn tỏa ra từ chồng sách báo đang từ từ mục trong cái khí hậu ẩm thấp của Á châu” như lời của nhà báo phương Tây miêu tả. Ông Ẩn vẫn sống trong phong cách của một người nghiên cứu và biết dung hòa với tuổi tác ngày càng cao của mình. Công việc bận rộn suốt ngày, chỉ ngồi ở căn phòng khách, ta có thể tưởng tượng ra khối lượng công việc của ông. Bể cá phải thay nước thường xuyên. Những lồng chim treo đầy cửa, đặt trên kệ. “Con này 10 năm rồi đó” – ông chỉ về phía con chim quý và dẩu môi ra huýt sáo chẳng ngần ngại, như ông và chú chim kia vẫn thường nói chuyện cùng nhau. Dưới mắt tôi, con chim nhỏ xíu chỉ bằng quả chuối ngự kia, thật “đáng sợ”: Để cho nó được sạch sẽ và no nê cất tiếng hót, chủ nhân phải hầu hạ nó nhiều công lắm!

Vì sao ông chọn nghề báo, và giữa nghề báo thực sự với công việc của một sĩ quan tình báo, hai việc đó liên quan nhau thế nào? Làm thế nào để đúng như ông nói – Chỉ huy của ông luôn dặn đi dặn lại là đừng làm gì phương hại tới công tác của một nhà báo.

“Bình phong để hoạt động không phải là cái vỏ, không phải là sự đội lốt trá hình, đó không phải sự ngụy trang bên ngoài. Phải thực sự sống bằng nghề đó một cách trong sạch – Sống mãn đời nghề đó mới mong tiếp cận được mọi điều. Đó là cả một nghệ thuật sống. Nội cái đó không thôi cũng đã là cả một cái luận án.”

Ông lấy thí dụ Graham Greene (tác giả cuốn The Quiet AmericanNgười Mỹ trầm lặng) hết làm tình báo trở thành nhà tiểu thuyết. Nếu không là một người trong giới trong nghề, nếu chỉ là sự ngụy trang bên ngoài, sao ông có thể trở thành một tiểu thuyết gia.

“Người muốn tạo ra phải ở trong giới đó – Sống mãn đời với nghề.”

Theo ông, có ba nghề quan hệ rộng nhất, có lợi cho công việc của tình báo, đó là luật sư, bác sĩ, giáo sư. “Thật ra, báo chí rất dễ bị nghi. Cách cả cây số có mùi nó rồi. Cứ nghi là chắc. Nó chuyên phủ định, Negative, moi móc cái tiêu cực. Xã hội lúc đó giàu và quyền thế là thiểu số. Còn đông số nghèo khổ ,uất ức sẵn. Nghề này cần đổ cái tiêu cực của đám quyền thế đó ra. Và người làm việc đó là anh nhà báo”.

Ông như người phân tích kinh tế, lấy hình ảnh chia cái bánh: “Sản xuất ra ít, nhu cầu nhiều, thì bánh chia thế nào. Dân nghèo đa số chỉ được miếng bánh nhỏ. Ức hoài. Ký giả viết thường bám vào những quan tâm của đa số đó. Tờ báo nhiều người đọc mới có quảng cáo. Một trang một kỳ mấy chục ngàn đô. Hình bìa báo tuần là 50 ngàn đô. Đó là giá ngày xưa. Nay mắc hơn nhiều”. Ông giải thích: Đó là lý do vì sao an ninh “theo” ký giả trước. Bởi dù nếu không làm tình báo, chỉ làm một phóng viên chuyên nghiệp cũng moi móc tin. Nhưng nghề nào cũng phải đạt tới mức chuyên nghiệp và phải có lương tâm nghề nghiệp.

Nghề dễ chọn làm nghề để hoạt động là luật sư, bác sĩ, nhà giáo, “kể như tính mạng bệnh nhân giao cho bác sĩ”; giáo sư không bao giờ dạy con mình làm bậy, do đó được phụ huynh tin cậy. Còn luật sư, nhất là cãi án hình sự thường bênh vực được người yếu thế, oan ức. Về cái nghề luật sư này, ông Ẩn có câu chuyện tiêu biểu của người em ông, sau này là một vị đại biểu Quốc hội khóa VIII của tỉnh Cần Thơ. “Thời kỳ tòa án xử bà Huỳnh Tấn Phát, tòa chỉ định em tôi, luật sư mới ra trường lúc đó đứng ra bênh vực. Nó theo vụ án tới cùng. Còn nếu là tiền bao nhiêu đi nữa, nếu biết án giết người là nó từ chối. Lương tâm nghề nghiệp nó dạy vậy.”

Nếu coi bình phong chỉ là thứ nghề giả tạo mà không giỏi thật sự, không làm nghề thật sự thì “chết như không”. Ông Ẩn vẫn còn nhớ chuyện của một điệp viên đóng vai cố vấn cho Nguyễn Chánh Thi lúc đó là tư lệnh quân đoàn. Một sĩ quan cao cấp bên an ninh đối phương có quan hệ khá thân, một hôm bảo Ẩn: “Toa làm cho báo Mỹ phải cẩn thận nhá. Ông Sáu Già là Việt Cộng đó (Sáu Già là một điệp viên từ Bắc vào làm cố vấn cho tướng Thi). Phải cẩn thận đó nghe. Toa có tính tốt, moa nói cho toa kiểm tra coi chừng”.

Vì sao sĩ quan an ninh này biết ông Sáu đó là Việt Cộng? Viên sĩ quan này vẫn không hề biết Ẩn cũng là một điệp báo Cộng sản. Ông ta vẫn nghĩ Ẩn chỉ là một phóng viên giỏi của báo Mỹ. Còn Ẩn, cũng không có cách nào để giúp vì nguyên tắc bí mật hoàn toàn. Ẩn chỉ rút ra bài học nghề nghiệp từ ông Sáu Già đó. “Moa biết là vì để ý thấy hễ ai quan trọng nói chuyện với ông Thi, ông Sáu thế nào cũng ngồi ở giường phía trong bức bình phong”. Viên sĩ quan nhận xét vậy, rồi xui ông Ẩn “Toa cứ thử vào phỏng vấn tướng Thi mà coi. Nó ngồi nghe đó. Có ký giả ngoại quốc là nó cho có chuyện quan trọng, thế nào cũng ngồi nghe”. Ông Ẩn thử làm, y như vậy. Ẩn dẫn ký giả nước ngoài vào phỏng vấn tướng Thi và thấy cảnh đó diễn ra thật. Sau đó, Mỹ giao cho tình báo kiểm tra ông Sáu. Ông Ẩn biết được cách kiểm tra của họ là do “đàn em” thân tín của ông, chính là người được phân công kiểm tra.

Cách kiểm tra ra sao? “Tôi sẽ dẫn thằng học trò lại vì ổng nói ổng là giáo sư trung học dạy toán ở bên Campuchia về. Mang thằng học trò lại, nói ngày mai thi rồi có bài toán bí quá nhờ giảng hộ”. Hắn đã làm như thế thật, và ông Sáu đã không giải được bài toán lớp bảy. “Sau này ông Sáu đã bị giặc bắt và ông Thi bị đưa đi Mỹ lưu vong”.

“Bình phong phải là một cái nghệ thuật, phải sống thật với nghề, phải giỏi, không thể ghép vô đóng giả được. Bác sĩ giỏi cứu được người bệnh, mới có quan hệ thân được”.

Trở lại sự nhìn nhận thời cuộc lúc đó, ông Ẩn cho rằng tình báo của các nước đều đi theo kiểu “ăn sâu trèo cao” nhưng thực tế cho thấy lên cao chừng nào thì lại có sự hạn chế chừng đó. Lên không phải dễ, nước nào cũng vậy. Phải có một nghề phù hợp với mục tiêu đối phương.

Đời ông đã từng biết câu chuyện thực tế về việc “đánh vô” không hề dễ dàng. Khi ký Hiệp định Genève, đất nước tạm chia đôi. Âm mưu của Mỹ là không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định đã ghi. Trong số những người di cư vào Nam, có hai thanh niên trẻ được cách mạng đào tạo. Con đường của họ là phải học hành thành sĩ quan chuyên nghiệp thực sự. Bao giờ thành tài, họ sẽ được giao nhiệm vụ sau. Hai thanh niên ráng học giỏi, được sang Mỹ đào tạo quân sự. Trong khi đó, có một cán bộ ngoài Bắc vào nắm tình hình và bị bắt khi chưa ổn định. Bị tra tấn dã man, ông đã khai ra kế hoạch đào tạo hai chàng trai nọ. Người tình báo bị bắt lẽ ra phải tự tử nếu chịu không nổi, vì nguyên tắc của địch là đánh cho tới khi khai. Khai ít đánh cho khai nhiều, khai nhiều rồi đánh nữa cho khai hết. Ai còn sống được là mừng. Có người bị giặc chích thuốc cho lên cơn thần kinh, bị ám ảnh ma quỷ bóp cổ để khai những gì còn nằm trong tiềm thức. Có thể nói đó là sự thử thách quá giới hạn của sức người. Sống thì thân tàn ma dại. Chính quyền ngụy không đủ phương tiện tra khảo thì chỉ dùng đòn đánh dữ. Ông cán bộ này chưa được huấn luyện kỹ. Một thử thách nữa là tình báo đảng viên lại có quy định giữ trọn khí tiết, không được tự tử, thế mới khổ thân.

Là một người được coi như một chuyên gia, ông Ẩn được phép quan hệ với nhân viên Quân ủy Trung ương ngụy, mặc dù lúc đó ông là chuyên viên ăn lương Phủ Tổng thống. Ông được tin cậy tới mức Điều lệ của Đảng Cần lao cũng đưa ông sửa và góp ý. Ông Đỗ Mậu (mà người ta gọi chệch là ông Đổ Máu – ông ta là đại tá giám đốc An ninh Quân đội) hỏi ông Ẩn: “Hai thằng này tính sao?”. “Khổ quá. Việt Cộng nó ghê gớm. Bây giờ kêu hai thằng đi học đó về, bắt xác nhận có việc đó. Chứ tụi nó mới đi học, đã hoạt động gì đâu. Cho đối chất chúng cũng biết ai đâu mà nhận mặt. Ra tòa cũng không kết tội được vì chúng chỉ đi học thôi, chưa hoạt động, đâu có tội gì”. “Thế hai thằng đó nó phải làm gì?” “Bắt xác nhận”. “Xác nhận xong làm gì?” “Đuổi nó ra khỏi quân đội. Bởi khi nhận việc, chúng nó tuổi vị thành niên”.

Việc diễn ra y như rằng, hai thanh niên kia bị gọi về nước tạm để kiểm tra thẩm vấn và sau cho ra khỏi quân đội. Câu chuyện cho thấy cài người khó như thế nào. Tạo bình phong từ nguồn đến vậy rồi mà còn hỏng. Ông Ẩn nhận xét và nhớ lại như đang bình luận một câu chuyện cũ. Trong buổi chiều thanh bình ở một thành phố mà mối quan tâm của tất cả dân chúng là hối hả làm ăn, thì câu chuyện xa xưa này nghe khó cảm nhận được hết.

Theo câu chuyện của ông, thời cuộc lúc đó hiện ra trong lời vắn tắt mà rất khốc liệt. Sau những năm 1957-1958, các lưới tình báo của ta bị bắt hết. Dương Văn Hiếu cảnh sát đặc biệt Miền Trung dưới thời Ngô Đình Cẩn rất có kinh nghiệm nắm rõ hoạt động của ta. Chính ông Mười Hương, chỉ huy của ông Ẩn, cũng bị bắt trong thời gian đó. “Tôi đang học ở Mỹ – ông Mười Hương giữ được khí tiết, không khai ra nên tôi an toàn”. Ông Ẩn nói rất kỹ về nỗi khó khăn của việc tạo vỏ bọc, của bình phong. Chính Mỹ dạy về nghề tình báo này kỹ lắm. Phải bí mật tuyệt đối. Họ dạy rằng khi nói chỉ một chuyện mật với một người khác thì phải coi là 11 người biết, còn nói với 3 người là 111 người biết.

Việc giữ bí mật quan trọng tới mức nếu một điệp viên được quá 3 người chỉ đạo là phải đổi sang bình phong khác. Tạo bình phong hoạt động cho một điệp viên rất khó và đòi hỏi nhiều thời gian, công phu và nghệ thuật.

Cách rất tốt là điệp viên đó phải đạt được tới mức trở thành chính khách, các giới đều tìm đến tham khảo ý kiến. “Giới quân sự cũng chạy tới. Bên kinh tế cũng qua hỏi. Nhưng không phải dễ đưa ra lời nhận định. Khi đã được coi như chính khách rồi thì phải hết sức khách quan khi phân tích tình hình, đóng góp được những ý kiến có giá trị”. Có người được thăm dò để chuẩn bị vào chức bộ trưởng, cũng tới hỏi, nhờ phân tích xem có nên nhận không, sẽ gặp khó khăn thuận lợi nào. Thậm chí có người sắp tiếp giới báo chí cũng tới hỏi ông Ẩn xem “Có nên tiếp thằng này không. Nó sẽ hỏi gì. Trả lời thế có được không”.

Ông Ẩn còn nhớ có một người là tiến sĩ toán học, tốt nghiệp bên Tây về, bạn của bộ trưởng giáo dục nên được chỉ định làm giám đốc Trung học. Vị tiến sĩ này về nhận việc thấy nội bộ nơi mình làm lại đang có chuyện không hay với Phủ Tổng thống. Hai bên mâu thuẫn, và tất nhiên là cơ quan đó bị Phủ Tổng thống “đánh”. Hoảng quá, vị tiến sĩ cũng tìm đến Ẩn, “tay nhà báo chuyện gì cũng biết”. “Nó đánh nhau, moa ở giữa sợ bị đạn. Có cách nào giúp không”. Vốn rất quen biết Phủ Tổng thống, ông tìm đến người phụ trách. Câu chuyện thân mật đã giải quyết vấn đề thật nhẹ nhàng: “Nè, tôi có người bạn mới về làm giám đốc đó, ông nội! Nhắn biểu đàn em cho nó yên được không?”. “Không dính dáng chính trị phải không?” “Ừ. Nếu được thì ra lệnh đàn em đừng động đến bạn tôi, tội nghiệp nó!”

Ở đời phải giúp đỡ người khác, giúp rất nhiều. Ông Ẩn còn có cả núi kinh nghiệm giúp cả mấy cô gái “ăn sương” thường bị nhân viên bảo vệ thuần phong mỹ tục (tiếng Pháp gọi là agents – de – moeurs) hỏi thăm. Từ việc to đến việc nhỏ, chẳng có việc gì lường trước được. Đôi khi tình thế xoay chuyển đạt kết quả bất ngờ, dựa vào những ứng xử mang đạo lý chứ chẳng phải bùa phép gì đặc biệt. Ngày đó, luật sư Nguyễn Hữu Thọ có cô con gái yêu một người Mỹ. Vốn thù luật sư theo kháng chiến nên chính quyền Sài Gòn lúc đó định làm lớn việc này ra bôi nhọ thanh danh ông. Viên trung tá cảnh sát nói dự định sẽ bắt người con gái đó ra xử tội. Lý do là “vi phạm thuần phong mỹ tục” vì chứa người Mỹ trong nhà khi chưa kết hôn và không khai báo với cảnh sát. Nghe được dự định này, ông Ẩn cản: “Đừng làm vậy. Hạ sách. Con ổng tự do. Bôi nhọ không được đâu. Người ta hy sinh cả gia đình đi vô chiến khu, đâu có mang con theo đâu mà quy trách nhiệm ổng. Ổng là trí thức lớn có uy tín, bôi nhọ kiểu đó không được đâu, lại lòi ra nhà nước quốc gia hành động bần tiện. Mà làm như vậy thì cũng là bôi nhọ luôn cả thằng Mỹ nữa”.

Những lời hợp lý và tỏ rõ ứng xử khôn ngoan ấy đã ngăn không cho việc xấu xảy ra. Hơn thế nữa, qua cách ứng xử ấy, những kẻ đang tính mưu mô bẩn thỉu còn thấy ở ông Ẩn một nhân cách trí thức biết tự trọng. Lời khuyên ấy giúp họ tránh được những cư xử sơ hở, ngu ngốc, nếu không, họ đã trở thành người bị chê trách. Những lợi ích như thế, qua nhiều thử thách lớn nhỏ của cuộc sống, khiến Ẩn được yêu kính và tin cậy. Ở đời phải giúp rất nhiều mới mong có quan hệ tốt, sự tin cậy và giúp đỡ lại. Không phải là trả nợ ngang giá, mà nhiều khi ông được giúp hoàn thành những nhiệm vụ to lón liên quan đến vận nước…

Đang nói chuyện về cái bình phong, cái vỏ bọc nghề nghiệp, ông Ẩn phải ngừng câu chuyện để nghe điện thoại. Không rõ câu chuyện của ông với ai đó, liên tưởng tới câu chuyện bỏ dở, ông buông máy điện thoại để tiếp tục cái ý nghĩ liên quan tới lối ứng xử mà ông suốt đời tuân theo.

“Ông bạn này người Hoa, 70 tuổi, bạn tốt. Cuộc sống ở đời có hai cái: thứ nhất là quan tâm đến người khác. Thứ hai là phải tranh thủ chơi với người bạn tốt, dù cho người xấu có nhiều, càng ngày càng xấu. Phải làm bạn thật tình cho hết cuộc đời. Đời thành công cũng nhờ hai cái đó”.

Tuoitre