Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 5: Con người có 3 nền văn hóa

Phạm Xuân Ẩn hay nói “Ông có ba nền văn hóa ”. Vậy thực hư truyện này là sao ? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu.

Quả thật ông không bao giờ giấu giếm ý nghĩ rằng đã học được rất nhiều điều ở Mỹ và có thể coi thời gian đi học ở trường báo chí Orange Coast tại quận Cam, California là những năm quyết định quan trọng đối với ông. Người dân Mỹ trung thực, công bằng, cởi mở và tử tế. Họ cho thấy phần nào khái niệm về tự do và lòng tôn trọng quyền của con người. “Họ chỉ cho tôi cách nhìn mọi sự theo con mắt của người khác, phê phán bản thân mình trước hết. Họ dạy các thế hệ biết lao động, biết trở về thực tế. Tôi mong muốn con cái tôi được giáo dục ở Mỹ”. Ký giả nước ngoài vẫn thường trích dẫn ý kiến này.

pham-xuan-a

Nhưng họ không biết rằng việc Ẩn sang Mỹ du học vào cái năm 1957 trên danh nghĩa tự túc bằng tiền hưu trí thôi việc lúc mới 30 tuổi, có 7 năm làm việc, có đủ tiền máy bay lúc đó giá 600 đô – cuộc đi đó do Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định. Nếu không quá khó khăn, Đảng muốn Ẩn học từ 4 đến 6 năm để có bằng tiến sĩ. Mục đích của Đảng giao cho Ẩn phải học thật giỏi, và tìm hiểu nước Mỹ. Chính vì thế Ẩn đăng ký học lịch sử – địa lý – kinh tế Mỹ, báo chí, quân sự… Không những thế, Ẩn có ý thức tích lũy những kỹ thuật, nghiệp vụ, các bài học rút ra từ các tài liệu của Mỹ, Liên Xô, Nhật. Ông đã kể lại những ngày đi học ở Mỹ, với bạn ông, nhà báo Hồng Liên như sau:

“Chính người Mỹ dạy tôi nhiều bài học bổ ích. Tôi còn nhớ, trước khi đi, bên nhà dặn tôi phải ráng học cho xuất sắc. Tôi vâng lời. Một hôm, bà giáo dạy môn Anh văn hỏi: Tôi thấy môn này anh đã giỏi rồi, đâu cần học nữa. Tôi nghi anh qua đây không phải để học mà làm chuyện khác. Giật mình, tôi ráng trả lời một cách bình thản: nước tôi nghèo, nên tôi phải ráng học, học bất cứ cái gì có thể để về phụng sự quê hương tôi. Bà đáp: Ừ, bây giờ thì tôi tin anh. Tôi nghi ngờ anh là vì hồi Đệ nhị thế chiến, tôi huấn luyện sĩ quan tình báo, nên có bệnh nghề nghiệp (!). Anh bạn học chung lớp cũng thắc mắc tại sao tôi phải cố học cho giỏi. Hắn nói: Mày học xong sẽ về hay ở lại? Nếu ở lại, tao khuyên mày nên đi chơi nhiều hơn. Người Mỹ không thích học quá giỏi, vì học giỏi khó kiếm được việc làm hơn người học trung bình. Người thuê lao động nếu mướn người có học lực khá, họ yêu cầu phải làm việc gấp rưỡi hoặc gấp hai người thường. Và họ cũng không thích mướn những người học giỏi làm chung với người học bình thường.

Từ dạo ấy, tôi bắt đầu mê chơi. Một bài học khác: Khi học môn nói chuyện trước công chúng, tôi không hiểu sao bài của mình luôn bị điểm C dù đã gắng hết sức. Tức quá, tôi hỏi chị bạn ngồi kế bên. Chị nói: Vị giáo sư là người không ưa Cộng sản. Mà tôi thì thấy anh ưa dùng từ kiểu Cộng sản. Anh không được điểm cao là phải. Hóa ra là khi tôi ở Việt Nam, tôi hay đọc sách báo cách mạng viết bằng tiếng Anh. Tôi quen vốn từ vựng cách mạng và sử dụng nó trong bài kiểm tra mà không biết. Về sau, mỗi lần làm bài, tôi lại nhờ chị sửa giúp từ vựng. Và bài đạt được điểm B. Mặt khác, khi về nước tôi không dám giao hảo với nhiều người Việt. Tôi làm báo nhưng làng báo Việt Nam tôi hầu như không quen ai, trừ một vài chủ bút. Ngay cả trong tình cảm riêng cũng phải đè nén lại. Hồi ở Mỹ tôi có yêu một cô gái và định cưới cô ấy. Nhưng tôi cưới vợ Mỹ thì công việc của tôi sẽ càng rắc rối thêm. Vậy là chúng tôi chia tay nhau.”

Sau khi học ở Mỹ về, ông làm việc ở Việt Tấn xã, cơ quan thông tấn chính thức của chính quyền Sài Gòn. Một năm sau chuyển sang viết cho Reuters. Bốn năm sau, ông chuyển về tờ New York Herald Tribune. Từ năm 1965 – 1976 ông là phóng viên Việt Nam duy nhất viết cho Time.

Ngày nay, khi mà loài người tự nhận thấy sự biến đổi của thế giới một cách rõ ràng hơn, giao lưu với bên ngoài nhiều hơn, thì lối sống cũng thay đổi. Người ta biết rõ có nhiều lối sống khác với bao nhiêu là thách thức: Thông qua Internet, người ta có thể thấy những luồng thông tin như thác đổ. Nhân loại biết tự phê phán và mổ xẻ những nghịch lý của thời đại mình và họ đã viết ra trên Internet: “Chúng ta có nhiều tòa nhà cao hơn nhưng tính cách lại nhỏ hơn, đường cao tốc rộng hơn nhưng quan điểm hẹp hòi hơn, chúng ta chi xài nhiều hơn nhưng gia đình lại nhỏ hơn. Nhiều tiện nghi hơn nhưng ít thời gian hơn. Nhiều bằng cấp hơn nhưng lại kém ý thức hơn. Thời của thức ăn nhanh mà tiêu hóa chậm, lợi nhuận quá cao nhưng quan hệ hời hợt. Thời của hòa bình thế giới nhưng nội chiến và thiên tai nhiều hơn”…

Nhân loại tự nhận thấy mình uống quá nhiều, chi quá lố, giận quá mau, thức quá muộn, dậy quá mệt, tăng số của cải nhưng lại giảm giá trị của mình… Một thời kỳ mà nhân loại nhìn lại mình tiến những bước dài để sang một thiên niên kỷ mới – Trong đó vệ tinh đầu tiên con người đầu tiên đi lên vũ trụ, bệnh AIDS được phát hiện, có cuộc cách mạng Internet và có công ty Microsof, và nhân bản được cả con người…

Trong thế giới ấy, ở khắp nơi có đủ các kiểu sống. Chẳng phải chỉ ở phương Tây xa lạ mà ngay ở phương Đông, ở nước Nhật, người ta cũng đã thấy được một lối sống không phải của ít người, có tới 10 triệu “con ký sinh sống độc thân” . Công thức và hình ảnh tiêu biểu thường là: một cô gái ngủ 9 giờ mới dậy, mẹ đã làm thức ăn sáng. Lao vào đi làm tới 9, 10 giờ đêm mới về. Đi chơi, cưỡi ngựa, đánh golf, mỗi năm nghỉ nước ngoài tiêu hết 9.000 đô. Thời đại của những ký sinh sống độc thân, dựa vào cha mẹ, rút vào vỏ ốc, xa rời xã hội. Người ta nói rằng có cả thế hệ người – chứ không phải số ít – đã lẫn lộn giữa hai chữ hạnh phúc và tiện nghi vật chất. Rồi người ta lại hy vọng như một vị giáo sư ở Nhật nhận định: Một xã hội sau thời kỳ nhộn nhịp sẽ đạt đến thời kỳ trầm lắng và chỉ đến lúc tụt xuống quá mức thì những nhu cầu bức bách sẽ giục nó dậy lên…

Nếu như vào thời hiện đại, thì suy nghĩ của ông Ẩn về con đường rèn luyện cho một niên thiếu thành người theo cách ông thấy được ở Mỹ sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu ta đứng lùi lại nửa thế kỷ khi đất nước Việt Nam còn biệt lập trong nỗi đau bị xâm lược, thì những mong muốn của ông Ẩn, cách suy nghĩ của ông cho con cái mình yêu lao động và thực tế “dễ lòi ra mình là Việt Cộng vì lúc đó ở Miền Nam giới công chức không ai nghĩ và làm như vậy”. Ông Ẩn nhớ lại cái thời mà ông là phóng viên của tờ Time, muốn con mình gần đời sống bình dân, thấy cảnh cơ cực để mà thành người. Ông nói: “Ngày đó tôi còn muốn con đi theo các chuyến xuống nông thôn cho nó thấy cảnh cực. Cho nó biết lội bùn, thấy con nít nhà quê ăn cơm bằng chén làm từ muỗng dừa đen bóng”. Ông muốn thằng con trai mình phải tập làm việc, biết giao tiếp, và định xin cho nó tập làm bồi ở nhà hàng Givral.

“Tôi muốn cho nó làm trong dịp nghỉ hè, biết làm bồi làm bếp, giao dịch, chạy bàn, lấy menu. Để sát với dân”. Ông sợ con mình giống như con cái của gia đình khá giả xa cách với cuộc sống – lúc đó Ân, con trai ông mới 12 tuổi.

“Mình làm vậy là bị nghi Việt Cộng. Nhưng tôi là vậy. Con nhà Mỹ nó làm việc nhiều. Mỹ nó dạy như vậy. Tôi thấy vậy là khôn”. Người ta ngạc nhiên và cũng ngại không dám nhân cho Ân tập làm bồi. “Các ông sợ nó lóng ngóng không biết làm? Hễ nó đập bể cái gì, tôi thường”. Nhưng ý định này chưa kịp thực hiện thì miền Nam giải phóng, cuộc đời đã thay đổi. Ông nói: “Cái cách nghĩ như vậy, giới thượng lưu miền Nam lúc đó cho chỉ có Việt Cộng mới dạy con lao động cực khổ. Tôi thì nghĩ điểm này nói là của Việt Cộng cũng được, mà nói Mỹ hóa cũng được”. Con của tụi Mỹ như ông đã thấy, “người ta nuôi con, đảm bảo cho con ăn học, có bệnh tật thì chạy chữa, đảm bảo những nhu cầu cơ bản. Nếu muốn xài hơn, thì đi làm việc kiếm tiền. Rửa xe, cắt cỏ… Dạy nó biết tiền từ lao động mà ra. Dù gia đình có là tỷ phú cũng vậy. Tôi thấy vậy là khôn”.

Phải lao động tay chân – lao động bao giờ cũng phát triển nhanh tư duy. Từ lao động chân tay mới vô trí óc. Phải lao động mới ra sáng kiến. Nhà trường Mỹ dạy kỹ lắm. Nhỏ xíu đã phải học cả những giờ học về cây cối. Ông thầy chỉ cách, trò tự trồng đậu, bắp, mía, biết cái cây nó lớn thế nào. Lớn chút ít học thêm nghề mộc, được dạy cách cầm bào, cưa, tập đóng bàn đóng ghế.

Ông thường dẫn con trai lên Thủ Đức vào những ngày nghỉ, vạch cả hàm răng trâu cho con xem để biết con trâu chỉ có một hàm răng. Chẳng gì làm cho nó nhớ liền bằng cái cách nhìn thấy tận mắt như vậy. Về quan niệm lao động để phát triển con người thì ông Mác đã dạy – Việt Cộng càng coi là lối sống căn bản. Vậy mà nếu anh sống theo cách đó, có thể là Mỹ hóa.

“Có ba nền văn hóa trong tôi” – lời ông Ẩn tự nhận, nó bao trùm lên toàn bộ tính cách và cuộc đời hoạt động của ông. Có lẽ phải hiểu lời ấy trên cách cảm nhận về thời cuộc, sự lựa chọn con đường dấn thân. Như ông đã từng trả lời phỏng vấn Morley khi được hỏi là làm thế nào để không bị lộ tung tích trong suốt bấy nhiêu năm. Ông nói: “Cái đó không khó bằng sự trung kiên”, sự trung kiên mới thực sự là vấn đề. Một số ký giả Mỹ cho rằng ông học được ý niệm về sự trung thành này từ các đại học Mỹ. Cũng có thể ông Ẩn đã được thấy và sống cùng với những người bạn Mỹ trung thực. Do đó theo ông, ở một mức nào đó, sự trung thành hoàn toàn là một ý niệm Mỹ.

Những lời như thế, không rõ thực hư là ông Ẩn có nói như vậy và các ký giả Mỹ có phần vội vã chăng khi họ có thể thừa nhận sự thấu hiểu triết lý thâm sâu của văn hóa Việt Nam. Trong ngôi nhà giản dị nhưng không quá nghèo khổ, cả gia đình ông sống theo tinh thần “xã hội chủ nghĩa” – chữ dùng của ông, khi tâm sự chút ít về chi tiêu trong nhà: “Phải có ngân sách, phải biết rõ kiếm từ đâu ra để chi. Các con nhỏ còn đi học, chi tiêu theo mức của ngân sách cho phép. Phải tiết kiệm”. Ăn thứ gì đủ dinh dưỡng, không cần xài đồ mắc tiền. Xưa người ta mặc đủ ấm, nay đẹp, tùy con mắt, nhưng phải coi ngân sách mà tính. Đi làm cũng vậy. Phải đọc sách, phải học. Con trai cũng phải biết chăm con…”

Đó là khái niệm “Việt Cộng” hay khái niệm Mỹ, ai muốn nói gì thì nói, điều chủ yếu không phải chỉ là lối sống vụn vặt bình thường hàng ngày. Nếu muốn nói đến nguồn cội văn hóa nào đã làm nên tính cách một người Việt Nam như ông Ẩn, thì phải bắt nguồn từ nhiều điều sâu xa hơn. Nó được chứng minh bằng sự lựa chọn của cá nhân đối với vận mạng gieo neo của đất nước mình. Nó còn là sự khôn ngoan của con người trước mọi biến đổi của pháp tướng vô thường.

Nguyễn Thị Ngọc Hãi

Tuoitre

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn Kỳ 4: Đồng chủ nhân trong vườn

Kỳ 4 này chúng tôi mang đến bạn bạn thêm thông tin về vị điệp viên tài ba Phạm xuân ẩn.

Cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm dò nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… Ông Ẩn, chờ đón, xem xét, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho chúng đến ăn rồi lại đi. Chúng là những “đồng chủ nhân” trong mảnh vườn nhỏ với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống…

pham-xuanTTO – Cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm dò nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… Ông Ẩn, chờ đón, xem xét, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho chúng đến ăn rồi lại đi. Chúng là những “đồng chủ nhân” trong mảnh vườn nhỏ với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống…

Chiếc cổng sắt lúc nào cũng đóng kín, có một cái chuông cũng đặc biệt: không nhấn nút cho reo, mà giật vào sợi dây dài. Một cái chuông nhỏ ở đâu đó kêu leng keng lạ tai. Có lẽ vì vậy mà thỉnh thoảng đám con nít đi qua cổng “ngứa tay” lại giật chơi. Chúng tưởng rằng chỉ có bầy chó sẽ xô ra sủa mà không biết rằng mỗi lần như thế, có rất nhiều “nhân vật” kinh động. Không phải chỉ có chủ nhà…

Thông thường, ở Sài Gòn thời mở cửa, bắt đầu cuộc làm ăn thị trường sôi động, nhà mặt tiền trên phố thế này chẳng ai không nghĩ cách tận dụng, xoay ra tiền bạc. Ngôi nhà của ông là một biệt thự hạng thường mà theo miêu tả của Henry Kamm thì “tướng của quân đội Việt Nam cũ không bao giờ cư ngụ trong căn nhà khiêm nhường đến thế”. Nếu ông bán đi như người ta thường làm, để lấy số tiền lớn mua một căn nhà nhỏ hơn, dôi ra được ít tiền. Hoặc nếu ông xây cất thêm chi chít, cho thuê, mở cửa hàng, hoặc làm quán ăn, café vườn… thì đó cũng là phương án thông thường của người Sài Gòn ngày nay. Nhưng ngôi nhà của ông giữ nguyên một mảnh vườn nhỏ phía trước. Tôi cảm nhận nó giống như một lời thầm nói lên tính cách của chủ nhân.

Một người từng trải qua mọi sang, hèn, đã là một ký giả như một chính khách thời thượng nhất, giờ đây “ông Ẩn còn yếu đuối hơn những ngày ông làm phóng viên” – lại lời của Henry – “Một người yếu đuối cong xuống nhưng không dễ dàng bị đánh gục giống như cái cây trong giông bão”.

Tôi cũng giật vào cái chuông đặc biệt trước nhà. Ông ra mở cổng sau khi đã chải đầu thật gọn gàng. Không rõ là kiểu tóc luôn được chải vậy hay là vừa mới gội đầu. Có khi ông vẫn mặc áo ba lỗ, ra mở cổng ngay sợ khách chờ lâu bên ngoài. Nếu mà nghe kể tên những thứ ở khoảnh vườn nhỏ thì rất dễ bị hình dung ra bài trí của biệt thự sang mà ta hay gặp. Nhưng khu vườn lại rất bình thường với vài ba khóm cây cao, còn lại là các loại hoa cây nhỏ và thấp xuống bên dưới khiến người ta khó mà nói ngay rằng đó là mảnh vườn trồng rau hay là vườn êm ả của các bụi cây cho bóng mát và sự yên tĩnh. Một con chó đá đen trùi trũi ở gần bậc cửa, nơi có một chiếc bàn đá nhỏ có thể ngồi chơi uống nước hóng mát các buổi chiều. Cái bàn này chỉ cách đường phố ầm ĩ gầm gào xe cộ suốt ngày đêm bởi vài bụi cây nhỏ. Vậy mà vị trí của nó đã đem lại ngay sự thanh bình rồi.

Mỗi tiếng chuông giật không chỉ là bầy chó sủa, mà làm kinh động nhiều “nhân vật” nào vậy? Khách không nhận ra ngay bởi họ đang bước vào khoảnh vườn vắng trước cửa. Chỉ đến khi quan sát các công việc tỉ mỉ, rất nhẹ nhõm của ông, mới thấy ở đây được khá nhiều vị khách lạ nhòm ngó lui tới. Không chỉ mình ta là vị khách bước vào.

Ông Ẩn bắt ổ chim, đỏ lói mới nở và cho chúng ăn bằng trứng kiến. Ông lấy ra thứ trứng kiến trắng như gạo, mềm, nhỏ li ti. Đó là trứng mới đẻ. “Kiến vàng đít chua lắm. Nấu canh chua thì bắt nguyên ổ, vớt kiến bỏ đi, còn lại nước chua lắm”. Ông giải thích như chia sẻ với một người cùng sở thích. Lời nói đó nhẹ nhàng “như thi nhân” bởi nó giống lời thì thào say sưa của đứa trẻ lúc đang chơi. Một thói chơi hồn nhiên như trẻ. Không có gì to lớn hoặc cầu kỳ theo kiểu dân chơi nhà nghề sành điệu đưa lên thành nghệ thuật. Thú chơi của ông khác lắm. Chiều theo thiên nhiên, lặng lẽ và có vẻ gì đó hưởng thụ như một cậu bé con tò mò, tinh quái.

Chẳng có nhiều điều kiện để cầu kỳ, nhưng lại khá “oái ăm” bất ngờ. Ai mà có thể nghĩ ra cái tác dụng nấu canh bằng cái đít chua của bầy kiến! Chắc chắn vợ ông đi chợ chỉ vài ngàn đồng là có đủ rau, thơm, bạc hà, lá giang cho nồi canh chua. Nhưng ông biết hết “tính năng” của các loài vật. Còn oái ăm hơn cả các món ăn: “Viết thơ tình bằng nước xanh chua chua bóp ra từ kiến. Viết bằng bút học sinh. Ông bồ hơ lửa thấy chữ. Cái này đi học được. Khổ vậy kia, cái gì cũng học!” Ông nói như than thở, mà mắt lại ánh vui.

“Chú bé Ẩn” chơi các con vật từ lúc 5 tuổi, chứ không phải kiểu chơi chim chơi thú của những ông già về hưu nhàn rỗi đỡ buồn. Ông có con khướu đã sống 15 năm ở khu vườn nhỏ này. “Sáo, họa mi, năm con sóc còn hai. Nó ở đâu đó đến! Tôi treo thức ăn lên vỏ trái dừa, ngày ngày nó đến ăn rồi lại đi. Đất lành chim đậu là vậy. Sẻ rất nhiều. Súng hơi người ta bắn riết nay không còn. Hai con chích chòe lửa, tôi bắt được ở đây”. “Chị ngồi chờ, để tôi chỉ cách bẫy sẻ này”.

Ông lấy ra hai cục gạch, đặt trên cái bàn uống nước: “Lấy ba cái que lớn lớn tí thôi. Bỏ lúa trong rải vài hột thôi”. Ông say sưa: “Cây trúc cương trực. Sẻ là tiểu nhân láu lia láu lịa, không bao giờ được người ta vẽ đậu trên cành trúc. Sẻ xấu, đa nghi. Gạch đè xuống là ra bắt liền, không nó chết”. Ông hướng dẫn cứ như là tôi cũng hiểu hết, đang muốn học chơi theo. Hình như ông muốn tôi cũng nên biết chơi, vì theo ông “con nít giờ không biết, giảng không hiểu, không biết chơi”. Ông dặn tôi: “Rải một ít ở bên ngoài kẻo nó ăn no không vào ăn phía trong hòn gạch nữa”. Ngày trước thì ông bẫy chích chòe. Bẫy đâu có như bây giờ! Cây tre có cành buộc như cần câu, một đầu cắm xuống đất. Có một cái vòng bằng tre, có cái cò để vô cột con dế. Có thòng lọng, có chỉ rút. Chim vào mổ cào cào, dế. Cái cần cò bật lên siết lấy con chim. Ông lại dặn: “Đừng treo cao quá siết cổ nó chết”. Còn bắt chim én, nó thường bay thấp, ăn ruồi rác. Nó bay sớt qua sớt lại không đậu. Phải để cái vòng có con ruồi ở giữa, chim chui đầu vô, bị giật.

Thì đó, có cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm dò nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… đủ cả. Nhiều khi chúng sống đâu đó, trên phố xá ta nào thấy được. Chỉ ở nơi đâu, có những người như ông Ẩn, chờ đón, xem xét nó, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho nó đến ăn rồi lại đi. Chỉ có kẻ nào hào phóng, không định sở hữu, bắt nhốt chúng, chúng mới tới “sống cùng” trong chốc lát, rồi lại là “người của tự do”. Chúng là những nhân vật đông đúc ở khu vườn nhỏ, khách vào nào có ai biết là chính họ đang làm kinh động nhiều vị “đồng chủ nhân” cùng với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời sống cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống.

Những ký giả phương Tây luôn ngạc nhiên không chỉ vì ông Ẩn là một ký giả xuất sắc, săn tin giỏi, mà còn vì óc hài hước, sự thành thạo nhiều mặt trong đời sống. Trong mảnh sân vườn nhỏ này, có lẽ tôi là nhân vật xa lạ nhất xâm nhập vào đây, mong mỏi được quan sát tìm hiểu về một con người đặc biệt. Đôi khi tôi có cảm giác hình như con chó đá nó đang cười tôi phía sau lưng, mỗi khi ông Ẩn tiễn tôi ra cổng. Dường như cả con kiến ở trong vườn này nó cũng biết rằng tôi không hiểu ông Ẩn bằng nó.

Cũng công bằng thôi, một khi mà với con chim huýt cô sầu ông nuôi nó 8 năm, đi chơi Vũng Tàu cũng mang nó theo. Có cả lồng tắm riêng cho nó. Ông nhìn cái lồng và bảo: “Lồng không sạch vầy ở Úc nó đuổi đó, không cho nuôi chim đâu. Còn nếu khi nào thấy cá lội tung tăng quá thì đừng có tưởng là vui tươi khỏe mạnh. Đó là lúc nước bẩn”.

Những con chim ấy biết sắp được ăn “bít tết” như Tây khi ông cầm sâu tươi và những con rắn liu điu nhỏ xíu ra. Dường như con huýt cô sầu biết ông Ẩn đã hiểu ra lai lịch vì sao nó có cái tên buồn rầu đó: Có đứa con gái nhỏ mồ côi được cô nuôi. Khi cô chết, nó ra mả khóc không ăn uống đến chết biến thành con chim huýt cô sầu. Cái sự tích chuyện đời con hoàng anh cũng được ông Ẩn kể: Cô nương kia chờ chồng chinh chiến. Chờ đến kiệt sức thì chim bay về báo tin cô ráng sống vì chồng sắp về. Cô ráng sống, được gặp chồng là nhờ chim hoàng anh.

Ông còn bình luận vui: Nhà nào mà có con gái, lại trồng cây liễu rủ buồn, thêm con chim huýt cô sầu nữa thì con gái đến là tự tử thôi. Phải cấm con gái trồng liễu và nuôi chim huýt cô. Thêm ông nội này kêu thì chết con nhà người ta.

Nguyễn Thị Ngọc Hải

Tuoitre

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn Kỳ 3: Những con vật dẫn đường

Trong kỳ này chúng tôi xin giới thiệu đến cho bạn kỳ 3 về điệp viên hoàn hảo Phạm Xuân Ẩn: Những con vật dẫn đường.

Theo ông, trong nhà phải nuôi ba con vật: Con chó trung thành, “con có thể chê cha mẹ khó chứ chó không bao giờ chê chủ nghèo”. Con chim thì nhảy hoài. Nó tiêu biểu cho sự bận rộn làm việc suốt ngày, không làm biếng. Còn con cá thì dạy sự khôn ngoan, im lặng, không nói nhiều mà suy tư…

Trong bản thành tích tóm tắt in ra công khai, ở trang “Anh hùng Trần Văn Trung” (tên ông Ẩn) chỉ khoảng 20 dòng: Sinh năm 1927, quê Biên Hòa – Đồng Nai, nhập ngũ tháng 12-1952. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung tá, cán bộ tình báo thuộc Bộ tham mưu Miền, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

pham-xuan-an-1

Từ năm 1952 đến tháng 4-1975 do yêu cầu của nhiệm vụ tình báo, suốt 23 năm cùng ăn, ở, làm việc với địch, Trần Văn Trung vẫn luôn giữ vững lòng trung thành với Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng. Trong công tác, Trần Văn Trung đã khôn khéo, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo bám chắc địa bàn, lập nhiều thành tích xuất sắc. Đồng chí đã cung cấp kịp thời nhiều tài liệu nguyên bản có giá trị lớn. Trần Văn Trung luôn giữ nếp sống giản dị, trong sạch, có ý thức tổ chức, kỷ luật cao. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba, 6 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua.

Năm 1976 ông Ẩn, tức Trần Văn Trung được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhưng cuộc đời và cuộc chiến đấu mấy chục năm của ông chắc chắn phong phú, đầy sự kiện, đã không được công bố cho báo giới hoặc in ra trên các phương tiện in ấn khác.

Những thư báo cáo tin tức về việc Mỹ đang thay dần quân Pháp ở Việt Nam là thời kỳ trước năm 1961. Sau đó là những tài liệu có tính chiến lược để chúng ta có thể nắm vững các kỹ thuật và chiến thuật mới của Mỹ – ngụy. Có những tài liệu mang giá trị cực lớn nêu rõ chiến lược quân sự, bình định theo cách chống nổi dậy được các chuyên gia Mỹ đúc kết kinh nghiệm từ các nước để áp dụng vào Miền Nam. Tài liệu về tổ chức, trang bị, các kế hoạch hành quân và các dự định hoạt động của địch, vừa mang ý nghĩa chiến lược, vừa tổng kết kinh nghiệm hoạt động quân sự và bình định. Đó là những nét khái quát lớn nhất về sự đóng góp của điệp viên Phạm Xuân Ẩn. Những tài liệu cực kỳ quan trọng này được chuyển ra rất sớm, giúp cho quân dân ta tìm được các biện pháp chiến lược chiến thuật đối phó đánh giặc, lập được nhiều chiến công xuất sắc.

Những kế hoạch lập ấp chiến lược, bình định nông thôn, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ… được kịp thời chuyển tới Trung ương, là kết quả của một cuộc phấn đấu, một đời hoạt động khá độc lập của ông tại các cơ quan cao nhất của kẻ địch. Ông đã làm việc, quen thân, ra vào dễ dàng, được lòng tin cậy từ những cơ quan lớn của chính quyền Sài Gòn như cơ quan Trung ương tình báo ngụy, Tổng nha Cảnh sát, An ninh Quân đội, được Phủ Tổng thống mời với tư cách chuyên viên tham gia đánh giá, đọc các tài liệu tối mật, tham gia ý kiến vào việc hoạch định chiến lược quan trọng của chế độ.

Ông đã làm việc cùng với nhân viên của đại tá Edward G. Lansdale, chỉ huy trưởng Phái bộ quân sự Sài Gòn (Saigon Military Mission – phái bộ này hoạt động cả quân sự, tình báo CIA và chính trị), người tổ chức hàng loạt chiến dịch phá hoại chống Việt Cộng. Ông Ẩn là một trong số ít phóng viên Việt Nam được mời dự giao ban quân sự. Đã có thời kỳ ông tư vấn đề cử các sĩ quan tham gia các khóa học huấn luyện ở các trường đào tạo quân sự tại Mỹ. Chính ông là người đã làm thủ tục cho Nguyễn Văn Thiệu đến Hoa Kỳ lần đầu tiên tham gia khóa học chỉ huy và tham mưu tại Leavenworth. Đám chỉ huy hành quân Mỹ còn cho phép ông lên trực thăng HU.1A đi theo hành quân sát trận địa, chiến trường, đến các phòng thuyết trình tình hình xem những bản đồ chiến sự mới nhất.

Nhưng có phải tất cả những thành công trên đây là do ông Ẩn là phóng viên chiến tranh của tờ báo Time lớn nhất nước Mỹ? Ở vị trí đó nên ông được sự thân thiết của giới cầm quyền cao nhất như Ngô Đình Cẩn ở Huế, Trần Kim Tuyến, Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí và rất nhiều dân biểu, bộ trưởng Phạm Kim Ngọc, giám đốc chiến tranh tâm lý Nguyễn Hữu Có, Cao Văn Viên, Lam Sơn?… Có phải tất cả các nhà báo đều có thể dễ dàng tạo dựng những mối quan hệ như vậy? – Mối quan hệ thân tới mức “lại nhà chơi cũng được”…

Có lần Trần Kim Tuyến yêu cầu ông đứng ra làm chủ bút một tờ báo, lời ăn, lỗ thì bác sĩ Tuyến chịu. Nhưng ông Ẩn đâu có tham vọng làm chủ báo, đâu có mục đích làm giàu. Đã có lần Ẩn phỏng vấn Ngô Đình Cẩn sau vụ đảo chính hụt về việc chính Cẩn đã phát hiện âm mưu đảo chính. Đã có báo cáo lên nhưng bị vứt vào sọt rác. “Thưa ôn nếu ôn chịu, con viết chi tiết đó cho Reuters”. – Ẩn thăm dò. Ngô Đình Cẩn phải bảo thôi đừng đăng: “Mi phỏng vấn tao thiếu nước lạy. Mồm ác lắm!” Ông Ẩn có một người anh họ làm giám đốc Cảnh sát Công an Trung phần. Biết Cẩn thích chơi chim, ông anh thấy Ẩn có con chim loan liền bảo: “Mi cho tao để biếu ôn”. Ẩn có cái ống nhòm, anh cũng xin “Cho anh biếu ông Cậu để ổng đi câu cá”. “Câu cá, hay là để dòm các cô?” “Cái miệng mi ra Huế chết tao”.

Sinh hoạt thời kỳ ấy có những chuyện vui bên lề. Phủ Tổng thống thấy Ngô Đình Diệm thích có người Nam mà biết Huế, biết Bắc, nói chuyện thẳng thắn và vui, họ muốn chọn Ẩn vì Ẩn đủ “tiêu chuẩn”. Diệm thích trò chuyện với những tay thẳng thắn, lại thích cây cối. Một lần Diệm xuống Vĩnh Long thăm ông anh là Ngô Đình Thục làm đức cha ở dưới miền Tây. Ngô Đình Diệm thích cây cối. Đi dọc đường, ông ta ưa thích nhìn mạ xanh bên ruộng hai bên đường thẳng cánh cò bay. Ông luôn mồm rủa những kẻ đang tâm chặt cây cối về làm cây Noel. Đang nhìn chiếc cổng làng phía xa có cây cổ thụ, dưới gốc cây nhiều nông dân đang nghỉ ăn trưa, Diệm thính lắm bèn hỏi: “Cây chi rứa mi?” Người lái xe cự lại: “Cây chi cụ nhìn cụ biết chứ, con đang chạy xe 100km/giờ sao dám nhìn cây! Tính mạng cụ nằm trong tay con đây nè”. Sau lần đi ấy, Diệm thường than mắng các cấp dưới chỉ biết a dua nịnh bợ ông mà chẳng ai thật lòng. Có người bộ trưởng vào tiếp kiến vâng, dạ lễ độ, lúc đi ra không dám quay lưng đi tử tế, lại đi giật lùi, chẳng may đụng phải đôn chậu cây vấp ngã, Diệm khoái trá cười: “Chỉ quen a dua nịnh bợ, các ông không thương tôi bằng người Sốp – phơ”.

Có lần ở sát biên giới Miên có tranh chấp. Thiếu tướng Becna Trần Tử Oai làm Tư lệnh vùng 4 sát biên giới, Ngô Trọng Hiếu lúc đó làm đại sứ, bị Xihanúc phiền trách. Diệm kiếm chuyên gia về Campuchia để hỏi ý kiến tìm cách giải quyết tình hình căng thẳng, liền xuống Cần Thơ tìm Tư lệnh vùng 3. “Cụ kêu lên” – viên tướng cấp tốc lên gặp, chào kiểu nhà binh cái rốp. “Tư lệnh vùng phải không?” “Dạ phải.” “Ở biên giới có tranh chấp, cho ý kiến giải quyết thế nào?” “Mật lắm Cụ ạ”. “Nói đi. Mật hoài.” “Phải rồi, cái này mật. Cụ cho con một ngày đi, một ngày về, tổng cộng khoảng 5 ngày con giải quyết xong”. “Năm ngày là sao?”, “Con hành quân đến Phompenh đánh một ngày”. “Đâu có được. Tưởng có mưu gì ngoại giao”. “Con quân sự chỉ có hành quân thôi. Quân sự là thế. Con nói Cụ rồi, mật lắm!”. Diệm khoái những người như “Oai” và nói thẳng như thế, có khi dám phản ứng theo cách của mình. Vì vậy người ta nhắm “chắc thằng Ẩn” đủ tiêu chuẩn để trò chuyện với Cụ. Nhưng cũng có người phát hiện “Nó ẩu lắm. Nó dám dắt ông Cụ đi dancing thì lộ hết mặt đám quan chức ăn chơi đi dancing tối ngày”. Ai chứ Ẩn thì dám dắt ông Diệm đi chơi đêm bất tử, lòi ra các bộ trưởng nhảy đầm!

Một dịp Tết, Ẩn lại chơi nhà Trần Kim Tuyến. Có mấy vị bộ trưởng mới tới chào Tuyến, Ẩn liền lại nói chuyện với bà vợ Tuyến. Thấy nhà họ được biếu quá nhiều hoa thủy tiên, Ẩn miệng nói, tay bốc: “Xài không hết. Tôi không có”. Vị bộ trưởng lấy làm lạ hỏi “Thằng nào hỗn vậy?” “À, anh Ẩn nhà báo thân đó mà” – bà Tuyến cười giải thích.

Ông Ẩn được nhiều quyền đặc biệt không chỉ do nghề nghiệp mà là do quan hệ rộng. Ông đi lại có cả giấy của an ninh Phủ Tổng thống, có súng. Ông lái xe đi Buôn Mê Thuột khi cần. Cùng với các nhà báo nước ngoài, Ẩn đi cả vĩ tuyến 17. Đi tham quan khu trù mật thì bằng xe của Phủ Tổng thống. Ẩn có chiếc xe riêng, xe taxi nhỏ hiệu Renault dùng suốt từ năm 1960 tới khi miền Nam giải phóng.

Người ta đã quen chiếc xe nhỏ của tay ký giả chuyên viết chiến sự, đi khắp nơi, tự lái và luôn chở con chó đi cùng. Ông nuôi bécgiê giống quý. Con bécgiê mua từ Đức cũng nổi tiếng vào hàng số một Sài Gòn lúc đó với giá 30 cây vàng. Những đêm ông làm báo cáo bí mật con chó nằm dưới chân. Nếu có động tĩnh gì, con chó thính lắm. Cảnh sát đi khám sổ gia đình (hộ khẩu) ban đêm giờ giới nghiêm ngoài đường cách gần cây số nó nằm yên nghe, lấy chân khều khều báo cho chủ. Ban đêm khi ông chụp lại các tài liệu, bản đồ dưới ánh đèn 500 watt che kín, nếu có tiếng chó sủa tức là có ai đó đi bên ngoài.

Sau này ông bán con chó đó để mua con khác từ Mỹ đem qua. Nó cũng tinh tường một cách đặc biệt. Những đêm Mỹ đem máy bay B.52 rải bom ở xa tận ngoài chiến khu, đất rền rung rất nhẹ nó đã sủa khi chưa ai cảm thấy. Mãi sau khi nghe nó sủa rồi, cố để ý mới thấy cửa rung. Con chó thường ngồi sau xe. “Có lần tôi trao đồ cho người liên lạc, bà khựng lại sợ quá vì thấy con chó”. Khi ông vào nhà hàng (ông thường vào các nhà hàng Brô-đa, Givràl, Continental… nơi tập trung giới báo chí, các quan chức, dân biểu) con chó được lệnh ngồi chờ ở ngoài xe. Nó có thể tuân lệnh ngồi yên như thế chờ đến một, hai tiếng tới khi ông chủ ra. Nếu được vào nhà hàng, nó chui nằm yên dưới bàn.

Hẳn là nó quá ấn tượng với đám bạn làm báo hồi đó. Đến nỗi nhiều năm sau này khi Sài Gòn giải phóng, họ trở lại thăm ông Ẩn, làm các cuộc phỏng vấn, như ta đã thấy trong miêu tả của họ, bao giờ bên ông Ẩn cũng có hình ảnh con vật thân thiết của ông. Morley đã tả lại kỷ niệm cũ khi tiếp xúc với Ẩn ngày xưa ở nhà hàng, cái mõm đen của con chó thò ra khỏi gầm bàn im lặng khi chủ của nó đang nói cười. Và hình ảnh gặp lại ông Ẩn ở Sài Gòn sau hàng chục năm cũng có “Ẩn và những con chó thân yêu của anh ta”. Kết thúc bài viết, cũng là “Ẩn giơ cánh tay xương dài vẫy vẫy từ biệt cùng với tiếng chó sủa theo chúng tôi ra ngoài con lộ”.

Ngày Tết, đám bạn bè và quan chức thường mừng rỡ nếu thấy chàng ký giả vốn “rất Mỹ” này lại khăn đóng áo dài dẫn bécgiê đến chúc Tết. “Ông nội này láo” – đám bạn bè trêu chọc bình luận. Nhưng Ẩn bảo: “Không đi với vợ mà đem chó bécgiê theo là hên”. Con chó cũng giúp Ẩn mở quan hệ thân thiết. Ông thân với Đỗ Cao Trí (tướng nắm Vùng 3 chiến thuật, vùng Sài Gòn và Đông Nam Bộ), cũng qua con chó. “Chả khoái bécgiê, đi chợ chó luôn. Cố vấn Mỹ mua cho chả 3 con: hai đực, một cái, nhưng đẻ con ra không đẹp. Ổng xin giống từ con chó của tôi. Nó nhảy, đẻ con rất đẹp. Ông nào thích thì cho giống với giá 100 đô một lần nhảy. Có khi tôi đem chó con đến biếu những người giúp đỡ mình. Họ mừng lắm”.

Lansdale phụ trách Phái bộ quân sự Sài Gòn, trong đó có hoạt động của CIA, cũng nuôi một con chó. Ông ta nhìn phản ứng của chó để dò xét người khác. Lansdale cho rằng người không có tà tâm thì chó của y nằm yên lặng. Người nào con chó nó dòm chừng thì có vấn đề gian dối tà tâm gì đó. Theo ông ta: “Con chó nó đánh giá được”. Có lần ông Ẩn bảo: “Mỗi lần tiếp tôi, anh để chó ớn lắm”. “Anh nuôi chó mà lại ớn chó sao? Nó giúp canh chừng, nó dòm cảm tình thì tâm địa tốt.” Lansdale lại giải thích. Ông Ẩn bảo: Đâu có nhất nhất như vậy. Có con nhạy có con không, sủa tầm bậy vu vơ. Chẳng có sách nào dạy cái “đồ” này.

Bây giờ ông Ẩn vẫn nhận xét thế. Nhưng theo ông, trong nhà phải nuôi ba con vật: con chó trung thành, “con có thể chê cha mẹ khó chứ chó không bao giờ chê chủ nghèo”. Con chim thì nhảy hoài. Nó tiêu biểu cho sự bận rộn làm việc suốt ngày, không làm biếng. Còn con cá thì dạy sự khôn ngoan, im lặng, không nói nhiều mà suy tư. Ông còn đùa: không nên làm nghề xuất nhập khẩu. Bệnh do khẩu nhập họa do khẩu xuất mà!

“Bệnh ăn bệnh nói dễ vô tù”.

Tuoitre.vn

Điệp viên hoàn hảo Phạm Xuân Ẩn Kỳ 2: Im lặng là nguyên tắc sống

Từ con người cho đến tính cách của ông vẫn luôn luôn là một ẩn số – Điệp viên hoàn hảo Phạm Xuân Ẩn

Tôi muốn tìm ra cái chất “Người Việt trầm lặng”. Tôi muốn mọi người Việt Nam được đón lấy những gì dịu dàng nhất, can đảm nhất, yêu thương tươi cười nhất, từ cuộc đời của một con người cao gầy, mỏng manh như cây sậy…

Ấy là vài nét hé lộ tính cách ông Phạm Xuân Ẩn. Cũng mới chỉ là lời của Peter Ross Range, của Morley Safer, hay là sau này Henry Kamm trong cuốn Dragon Ascending xuất bản năm 1996. Có vẻ như giới viết lách của Mỹ quan tâm đến ông nhiều hơn. Do trước đây họ đã làm việc với ông? Henry Kamm trong chương Heroes of war and peace đã nói rằng mình biết Ẩn đã một phần tư thế kỷ. Vậy mà Henry “không một phút giây nào tôi ngờ rằng trong suốt cuộc chiến tranh ông là đại tá của Mặt trận giải phóng dân tộc mà kẻ thù của họ gọi là Việt Cộng. Tôi biết ông là một đồng nghiệp hào phóng, hiểu biết và hóm hỉnh”. Henry đã đánh giá cao hơn nữa: “Tướng Ẩn – một trong những nhân viên tình báo Cộng sản bí mật gan dạ nhất ở Sài Gòn trong suốt cuộc chiến tranh chống Hoa Kỳ…” .

Trong cuộc nói chuyện với các đồng nghiệp cũ khi họ trở lại Việt Nam sau này, ông Ẩn quan tâm thăm hỏi tin tức của các đồng nghiệp cũ như Frank Mc.Culloch, giám đốc văn phòng tuần báo Time tại Sài Gòn, Richard M. Clurman, trưởng ban phóng viên cho Time – life có văn phòng tại New York. Những người Mỹ đã biết ông Ẩn tới một phần tư thế kỷ mà vẫn còn nhiều bất ngờ về ông. Sau nữa, chắc gì họ đã hiểu ông Ẩn như họ thường cho là họ hiểu. Như Morley chẳng hạn. Morley viết: “Tội nghiệp cho Ẩn. Anh đã chọn chỗ đứng giữa vùng đất không người, tùy thuộc vào sự hình thành của lực lượng thứ ba. Chẳng có chỗ đứng nào cho một tâm hồn nhạy cảm như anh…”. Mặc dù Morley cũng nhận ra rằng do ý nghĩa lịch sử, chỉ có một chỗ đứng như ông Ẩn đã đứng, dành cho những tâm hồn nhạy cảm. Nếu hiểu theo cách người Việt nghĩ thì do đất nước gặp ngoại xâm, tất cả những tâm hồn yêu nước, nhạy cảm, chỉ có một chỗ đứng giống nhau như vậy thôi, chỗ đứng trong đội quân những người cứu nước. Morley còn cho rằng nếu Graham Greene nhìn Việt Nam theo một cách nào đó, ông có thể viết cuốn tiểu tuyết Người Việt Nam trầm lặng với Phạm Xuân Ẩn là nhân vật mẫu.

pham-xuan-an

Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết. Nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ được “những chớp đèn flash” những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông theo những sự kiện lịch sử lớn lao. Chưa ai có được tấm chân dung hay “bản hồ sơ về tâm hồn” với tính cách điển hình Việt Nam. Các thành tích của ông đã khắc ghi bằng danh hiệu Anh hùng cao quý do nhà nước tặng. Nhưng điều gì, hoàn cảnh nào đã tạo nên một người Việt đặc sắc như thế?

Đó là nỗi niềm mong ước của tôi, khi lưỡng lự bấm chuông một ngôi biệt thự ở vào vị trí rất đẹp nhưng chỉ vào hạng xoàng trên đường Lý Chính Thắng, Sài Gòn. Tôi không thể đủ điều kiện viết về ông theo cách chuẩn xác của những điệp vụ. Càng không muốn liệt kê theo các bản khai lý lịch đơn thuần. Tôi muốn tìm ra cái chất “Người Việt trầm lặng” mà Morley hình dung, hoặc là chất honor trong cuộc đời ông mà Peter Ross Range đề nghị. Nhưng sau hết, tôi muốn mọi người Việt Nam được đón lấy những gì dịu dàng nhất, can đảm nhất, yêu thương tươi cười nhất, từ cuộc đời của một con người cao gầy, mỏng manh như cây sậy. Sức mạnh của con người ấy được lấy từ mỏ năng lượng quý báu và thần diệu nào đã ban cho? Nếu như bạn đọc nào ao ước cùng tôi điều đó thì hãy đọc cuốn sách này. Nó là một phần chân dung để chúng ta tự hiểu, hình ảnh người Việt cao quý giống như chúng ta đang vẽ ra bản đồ của một tâm hồn. Một việc thật khó làm!

Được gặp ông, nếu như có hình ảnh nào có thể liên tưởng từ cuốn sách của Morley thì đó là cái dáng ông Ẩn lòng khòng nay gầy thêm và khô đét. Tôi để ý xem có đúng là ông mang cặp kính dày cộp trông giống trí thức gia thường gặp nơi các quán café quanh khu đại học Sorbonne không, nhưng tất nhiên là không hình dung ra, bởi tôi chưa hề đến Pháp. Ông có thói quen gỡ kính ra khi nói và đeo vào khi lắng nghe không? Tôi cũng cố hình dung ra cái góc bàn nơi Morley ngồi và đã mô tả từ chiếc máy chữ xách tay cũ kỹ hiệu Oliveti để nơi góc bàn. Ông không có điếu thuốc Lucky Strike kẹp giữa những ngón tay xương. Trên mặt bàn thấp giữa sofa và hai ghế ngồi, ông cũng không bày các ly với chai Whisky White Horse và xô nước đá như khi tiếp Morley.

Nhưng nhận xét của Morley khi nói rằng: “Anh ta nói chuyện duyên dáng thoải mái với phong cách của một thi nhân” thì vẫn luôn luôn đúng. Chính ở căn nhà này, ông Ẩn đã cùng hai con chó quấn quýt dưới chân để đưa tiễn Morley ra xe. Morley cũng nói rằng Ẩn đã sống những cuộc sống rất đặc biệt, tại sao không viết ra. Đó sẽ là cuốn sách rất hấp dẫn, và cũng là cuốn sách quan trọng nữa. Ông Ẩn trả lời: “Trong những năm tôi làm phóng viên, không ai bảo tôi phải làm gì ở hãng thông tấn Reuters hoặc Time. Tôi đã quá già để học thêm những luật lệ mới rằng điều gì cho viết điều gì không. Tôi e rằng những ngày làm phóng viên của tôi đã qua rồi”.

Không biết tới hôm nay, những năm cuối cùng của thế kỷ 20 này, liệu lời từ chối ấy của ông có lặp lại, và tôi sẽ thất bại hay không. Điều này khiến tôi thật sự lo lắng khi đã ngồi ở bộ sofa, chuẩn bị cuộc trao đổi. Đôi bàn tay xương của ông rót nước trà. Cái bình trà cũng ngộ nghĩnh: ở gần vòi của bình, có đeo một chiếc rổ nhỏ xíu bằng kim loại, làm nhiệm vụ giữ lại những sợi bã chè nhỏ theo dòng nước chảy xuống, không cho chúng rơi vào tách trà mời khách.

Tất nhiên là ông lại từ chối việc viết sách. Đã từ lâu ông ít bộc lộ mình với giới báo chí. Nhưng ông không nói rằng do cái gì là luật lệ kiềm chế hay không. Ông nói như giải thích để mong nhận được sự thấu hiểu:

– Nghề tôi có hai cái kỵ: Nếu bị bắt, không trốn được (nếu trốn được thì tốt), nhưng nếu không sống được thì phải kể là chết. Cái cần giữ không phải xác anh. Xác anh kể là chết, nhưng không được tiết lộ nguồn tin. Không khai báo đã đành, ngay khi những gì địch đã biết, anh có thể nhận, nhưng tuyệt đối phải bảo vệ người cung cấp tin. Thứ hai là cái gì lấy được rồi, giấu tuyệt đối.

– Như vậy thì không bao giờ nhân dân, người đọc rộng rãi biết được cụ thể chiến công của anh là gì và làm thế nào anh có được nguồn tin tình báo?

– Đúng vậy.

– Ngay cả khi cuộc chiến tranh qua đi đã mấy chục năm, nhiều tư liệu, nhiều sự thật rắc rối bí ẩn cũng đã được đưa ra ánh sáng, lên báo chí và phim ảnh?

Ông quay ra than phiền rằng trước đây có một nhà báo được ưu tiên tiếp xúc tài liệu và ông đã ra sức can thiệp để không đưa lên công khai, nhưng cuối cùng ngăn không được. Đấy là một sự kiện khiến ông phiền lòng nhất.

– Tôi hứa gì, giữ đúng. Bao nhiêu năm sau cũng vậy. Có phải điều gì cũng viết ra hết cả đâu. Cái nghề tình báo nó vậy, đừng ai đụng tới. Những chuyện thất bại, đổ bể mới kể ra. Thế giới, hoặc Mỹ nó cũng vậy. Cái nào êm cho êm luôn.

– Nhưng ở Mỹ người ta cũng viết về những trường hợp tình báo chống Anh. Còn những cuốn Tass được quyền công bố,Hội tam hoàng hoặc Người từ xứ lạnh đến của John Care và cả Người không có mặt của tác giả Đức?

– Thì nói tượng trưng thế thôi. Hoặc như Graham Greene (tác giả Người Mỹ trầm lặng) ông ta là tình báo Anh Thế chiến thứ hai. Daniel Defoe viết Robinson cũng là một tay tình báo giỏi… Thông thường thì ít ai đụng tới viết về những gì tình báo làm. Lâu lâu lòi ra một trường hợp bị đổ bể, người ta mới viết…

Có vẻ như lý lẽ này của ông không được vững cho lắm, dù trong nghề của ông, người ta hành xử như vậy. “Lấy làm nhân vật tiểu thuyết thì nhiều hơn”. Ông Nguyễn Khải có viết hai cuốn tiểu thuyết lấy mẫu từ Phạm Xuân Ẩn, thì ông không lo lắng gì. Tiểu thuyết hư cấu mà. Còn với tay nhà báo mà ông phiền lòng kia, lại viết hết ra những “đồ” mà ông lấy được, kể tỉ mỉ cả những nguồn cung cấp tin…

Nó tai hại ở chỗ nào?

– Thường người viết cứ cho rằng viết ra những tài liệu lịch sử. Nhưng người ta tốt với mình, dù là họ vô tình không biết mà mang lỗi với công việc của họ, tổ chức của họ. Người ta giúp mình những việc nguy hiểm. Sao lại đưa người ta ra?

Thì ra là vậy – Ở đây có nguyên tắc sống, thái độ ứng xử, sự trung thành với con người chứ không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật. Ông giữ nguyên tắc sống này cho vĩnh viễn. Bảo vệ nguồn tin mãn đời. Đến hôm nay, sau cuộc chiến tranh đã lâu, có cả lứa sinh viên trẻ nghiên cứu khoa học Mỹ sang Việt Nam, ngay đó là con trai một thống đốc bang sang liên hệ tài liệu để làm luận án, ông cũng từ chối ngay.

“Mình xài đồ. Nếu nay dù họ có chết đi rồi, cũng không nên nói họ ra. Mình viết ra, con người ta lại trách con mình sao? Lối cư xử Á Đông, ông bà mình dạy, không thể xong việc mình rồi thì mặc kệ việc người”. Rõ ràng ông giữ một nguyên tắc sống, nguyên tắc cư xử của con người được giáo dục về nhân văn rất kỹ. “Có được một người bạn là khó khăn lắm, công phu lắm. Một người quan hệ bao lâu mới thân, bao lâu mới đủ tới mức họ giúp đưa đồ, đâu phải dễ. Có cả những người bạn tốt, tin cậy tới mức đưa máy bay rước tôi lên Buôn Mê Thuột đọc tài liệu. Nay dù chiến tranh đã qua rồi nhưng các thế hệ lãnh đạo của nước Mỹ đều ít nhiều dính vô chiến tranh Việt Nam. Đám đẻ sau Thế chiến thứ hai là dính vô Việt Nam đủ các lĩnh vực. Hội chứng này nặng lắm. Cho nên những mối quan hệ sâu sắc giúp mình làm nhiệm vụ, mình không thể nói người ta ra. Lúc giúp mình, người ta tin rằng đã giúp tài liệu cho một nhà báo để xài tài liệu phân tích hiểu biết thời cuộc. Mình không thể làm hại đến họ bất kể kiểu gì”.

Ông đã nghĩ tới nguyên tắc của nghề, và nguyên tắc sống. Chỉ có hiểu ông điểm này mới biết vì sao ông oán tay nhà báo nọ. Mình kể nguồn tin ra, Mỹ nó sẽ truy người ta liền, dù là chuyện qua đi đã lâu. “Ổng đòi đăng, tôi không chịu mà không can thiệp được. Lệnh trên là phải cung cấp tài liệu cho nhà báo đặc biệt đó để phục vụ công tác chung. Nhưng đăng lên thì không được. Tôi có can thiệp nhờ ông Mười Hương lúc đó, nhưng ông Mười Hương đứt mạch máu não là ông này chơi liền. Thế mới đau…”. Không phải chỉ đau về nguyên tắc sống giữ gìn sự trong sạch của nghề, một lý do ông không muốn nói hết công việc đã làm là: Ông tự nhận “có tật” luôn luôn nhìn tới chứ không nhìn lui. Tương lai của mình là do mình quyết định hiện tại. Cái gì xảy ra đã xảy ra rồi, ngoái lại sau lưng để làm gì. Mình không thể làm thay đổi quá khứ được.

Ông thường nói: “Bệnh người già là hay nói chuyện cũ. Cuộc sống bây giờ lại găng lắm. Ngày xưa cá nhận xuồng, nhắc vô kho. Vài con trùn, nhái rê rê là có cá ăn. Nay đấu kinh tế thị trường dữ lắm. Người già sống buồn thất nghiệp, tụi trẻ ưa nói cái mới. Kể chuyện mình cũ xì tụi trẻ nó không thích đọc đâu”.

Ông đùa hay ông nói nghiêm chỉnh? Tôi tự hỏi: Có thể nào tụi trẻ nó không thích nghe những chuyện như cuộc đời ông Ẩn?

Tuoitre

Vinashin: Phạm Thanh Bình phải nhận mức án 20 năm tù

7h40 sáng nay (29/3), phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) tiếp tục ngày làm việc thứ ba.

Đề nghị mức án 20 năm tù cho Phạm Thanh Bình ‘Vinashin’.

pham-thanh-binh

Các bị cáo tại phiên tòa

Kết thúc phần xét hỏi chiều qua, sáng nay, HĐXX chuyển sang phần tranh tụng, đại diện VKS đã đọc bản luận tội về các hành vi cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng của 9 bị cáo gồm Phạm Thanh Bình, nguyên chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Vinashin; Trần Quang Vũ, nguyên Tổng giám đốc Vinashin; Trần Văn Liêm, nguyên Trưởng ban kiểm soát tập đoàn; Nguyễn Văn Tuyên, nguyên Giám đốc công ty cổ phần Công nghệ tàu thủy Hoàng Anh cùng các bị cáo: Nguyễn Tuấn Dương, Tô Nghiêm, Trịnh Thị Hậu, Hoàng Gia Hiệp, Đỗ Đình Côn là nguyên các cán bộ ở Vinashin.

pham-thanh

Bị cáo Phạm Thanh Bình – nguyên Chủ tịch HĐQT Vinashin

Cụ thể, Nguyễn Thanh Bình cùng các đồng phạm đã không tuân thủ quy định của pháp luật, không thực hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ và cố ý làm trái các quy định của Nhà nước trong việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại các dự án: Dự án mua tàu Hoa Sen gây thiệt hại cho nhà nước số tiền hơn 469,5 tỷ đồng; dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Sông Hồng (tỉnh Nam Định) là hơn 316,5 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy nhiệt điện Diezel Cái Lân gây thiệt hại hơn 66,5 tỷ đồng; Dự án đầu tư tàu Bình Định Star gây thiệt hại hơn 30,4 tỷ đồng và việc bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang gây thiệt hại hơn 27,3 tỷ đồng. Tổng thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị can trong vụ án đã gây ra là hơn 910 tỷ 471 triệu đồng.

Phần luận tội của đại diện VKS kéo dài hơn một tiếng, VKS nhân dân tối cao đề nghị mức án đối với các bị cáo theo khoản 3 điều 165 Bộ Luật hình sự từ 10 đến 20 năm là hoàn toàn đúng người đúng tội trong khuôn khổ pháp luật.

Phạm Thanh Bình, nguyên chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Vinashin Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị tòa xử phạt bị cáo Bình từ 19 đến 20 năm tù.

Bị cáo Trần Quang Vũ, từ 11 đến 12 năm tù; Bị cáoTrần Văn Liêm, từ 17 đến 18 năm tù; Bị cáo Nguyễn Văn Tuyên, từ 15 đến16 năm tù; Bị cáo Nguyễn Tuấn Dương, từ 3 đến 4 năm tù; Bị cáo Tô Nghiêm, từ 17 đến 18 năm tù; Bị cáo Trịnh Thị Hậu, từ13 đến14 năm tù; Bị cáo Hoàng Gia Hiệp, từ 12 đến13 năm tù. Bị cáo Đỗ Đình Côn từ 11 đến 12 năm tù.

Cả 8 bị cáo nêu trên đều bị truy tố theo khoản 3 tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Riêng bị cáo Nguyễn Tuấn Dương, nguyên Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Đầu tư Cửu Long đã được thay đổi tội danh từ tội cố ý làm trái quy định nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng sang tội sử dụng trái phép tài sản. Dương bị đề nghị mức án 3 – 4 năm tù giam.

Ngoài ra, bị cáo Phạm Thanh Bình, Trần Văn Liêm, Hoàng Gia Hiệp còn phải bồi thường cho Công ty Viễn Dương 650 tỉ đồng và lãi suất vì sai phạm trong dự án tàu Hoa Sen.

Trong dự án nhiệt điện Sông Hồng, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Văn Tuyên phải bồi thường cho Công ty Hoàng Anh 23 tỉ đồng và lãi suất.

Phạm Thanh Bình, Tô Nghiêm liên đới bồi thường cho Công ty cổ phần CNTT Cái Lân 32 tỉ đồng vì sai phạm trong dự án mua nhà máy nhiệt điện Cái Lân.

Trần Quang Vũ chịu trách nhiệm bồi thường cho Công ty Nam Triệu 18 tỉ đồng và lãi suất vì đã làm trái trong vụ bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang.

Nguyễn Tuấn Dương phải bồi thường cho Công ty Cửu Long 20 tỉ vì sai phạm trong dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Sông Hồng tại Nam Định.

Xuân hải

Theo Infonet

Vinashin: Lý do của ông Phạm Thanh Bình trong vụ tàu Hoa Sen

Trong phiên xét xử buổi chiều 27/3, HĐXX tiếp tục thẩm vấn về dự án gây thiệt hại lớn nhất, trị giá 469,5 tỉ đồng, trong thương vụ mua tàu Hoa Sen.

Cáo trạng cho thấy, năm 2007, ông Phạm Thanh Bình, khi đó là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Vinashin, đã giao cho Công ty Vận tải viễn dương Vinashin mua tàu Cartour, đóng năm 2001 của Italia trị giá 63 triệu Euro về đổi tên thành tàu Hoa Sen để chạy tuyến Bắc Nam.

Các thủ tục mua tàu không được kiểm tra kỹ càng nên kết quả là tàu mua về không phù hợp điều kiện hoạt động ở Việt Nam. Tàu bị thủng đáy khi vận hành và sửa chữa mất hơn 300.000 USD, sau 39 chuyến vận hành thì phải dừng vì lỗ nhiều.

Tau-Hoa-SenBị cáo Bình lý giải, việc mua tàu Hoa Sen là một kế hoạch lâu dài được hoạch định từ những năm 2000 khi Chính phủ có chủ trương thiết lập tuyến đường trên biển Bắc Nam. Mức đầu tư dự án tàu Hoa Sen vào khoảng trên 65-66 triệu Euro.

Ông Bình trình bày “Vào thời điểm ký hợp đồng mua tàu hoa Sen thì chúng tôi đã làm xong dự án, đang trong quá trình hoàn thiện để trình ký phê duyệt chính thức. Đến thời điểm này vẫn chưa được quyết toán, lý do đây là con tàu mua về để tạo ra một con đường cao tốc trên biển Bắc Nam. Muốn thế thì phải có một con tàu thử nghiệm và đang giữa chừng thì bị khủng hoảng”, bị cáo Bình giải trình.

Bị cáo Trần Văn Liêm, trước khi làm Trưởng ban Kiểm soát tập đoàn là Giám đốc Công ty TNHH một thành viên vận tải Viễn Dương Vinashin (Công ty Viễn Dương) thì phủ nhận vai trò đồng phạm, mà lý giải là do là công ty con, nên chỉ thực hiện theo chỉ đạo của công ty mẹ.

Trả lời hội đồng xét xử, Phạm Thanh Bình cho rằng, có một số sai phạm, một phần có nêu trong bản cáo trạng, song chưa thực là đúng. Ví dụ, cáo trạng nêu bị cáo Bình làm trái ý chính phủ, nhưng ông Bình cho rằng không làm trái ý chính phủ. Ông Bình khẳng định “Khi chúng tôi xin ý kiến chính phủ thì chính phủ đã trả lời cho phép mua mới còn việc đầu tư thì theo quy định pháp luật”.

pham-thanh-binh
Bị cáo Phạm Thanh Bình (thứ 2, hàng đầu, từ trái sang) cùng các bị cáo khác tại phiên xử hôm nay. Ảnh: TTXVN

Vào buổi sáng, sau khi kết thúc phần đọc cáo trạng, tòa bước sang phần thẩm vấn các bị cáo về những sai phạm trong từng dự án. Bị cáo Phạm Thanh Bình và Trần Văn Liêm là những người đầu tiên bị thẩm vấn về dự án nhà máy nhiệt điện diesel Cái Lân.

Đây là dự án thực hiện trong giai đoạn 2002 – 2005, gây thiệt hại 66,5 tỉ đồng. Phạm Thanh Bình đã cho cấp dưới mua và tháo dỡ thiết bị từ một nhà máy nhiệt điện cũ ở Trung Quốc về lắp đặt tại Cái Lân, trị giá gần 600 tỉ đồng.

Tuy nhiên, khi đưa nhà máy vào vận hành, do mức tiêu hao nhiên liệu quá lớn (214,3g dầu/kWh điện, trong khi chỉ tiêu thiết kế là 195g/kWh điện) nên nhà máy càng hoạt động càng lỗ. Từ năm 2007 đến 2009 lỗ 57,5 tỉ đồng. Đến cuối năm 2009, nhà máy phải ngừng hoạt động hoàn toàn.

Khi được hỏi, bị cáo Phạm Thanh Bình cho rằng, cáo trạng truy tố của VKS là đúng và không có ý kiến gì nhiều. Song phần luận tội chưa được hợp lý bởi để dẫn đến những sai phạm cáo trạng luận tội là do điều kiện khách quan bắt buộc phải như vậy mới có được dự án trong khi nguồn vốn của chính phủ chưa có. ‘Do điều kiện khách quan phải như vậy thì mới thực hiện được dự án. Không có vốn nhưng vẫn phải thực hiện được dự án nên phải tìm ra nguồn vốn. Không có thì không ai cho mình làm… ‘ bị cáo Bình trình bày.

Lý giải việc mua nhà máy cũ, bị cáo Bình lý giải: chúng tôi quyết định mua một nhà máy có sẵn, đã lắp đặt là vì giá thành thấp được gần 1 nửa so với việc xây dựng nhà máy mới. Còn công suất kém vì nhà máy có 6 tổ máy thì mới chỉ có 2 tổ hoạt động thì đương nhiên lỗ chi phí. Dự án mới hoạt động thì phải để một thời gian hết công suất.

Trả lời khá rành mạch về những bước triển khai để thực hiện dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Diezen Cái Lân, từ việc mua máy móc, thỏa thuận với nhà thầu để mua những thiết bị cũ, đã qua sử dụng. Bị cáo Bình đã thừa nhận nhưng sai phạm của mình khi thực hiện dự án gây thiệt hại cho nhà nước hành trăm tỷ đồng. Để triển khai riêng dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Diezen Cái Lân đã nợ ngân hàng 10 triệu đô, tương đương với 200 tỷ đồng Việt Nam.

Theo Infonet.vn

Theo Infonet.vn

Vinashin: Mặc dù bị tuyên án nhưng Cựu chủ tịch Vinashin vẫn chưa thi hành ?

Mặc dù đã bị tuyên mức án 20 năm tù và buộc bồi thường gần 500 tỷ thế nhưng cựu chủ tịch Vinashin hiện vẫn chưa thi hành án được đồng nào.

Chiều 17/4, tại buổi họp báo công tác tư pháp quý I do Bộ Tư pháp chủ trì, nhiều phóng viên đặt câu hỏi xung quanh việc thi hành án của ông Phạm Thanh Bình – cựu chủ tịch Vinashin.

Vụ Vinashin: Ông Phạm Thanh Bình biện hộ việc mua tàu Hoa Sen

Trong phiên xét xử buổi chiều 27/3, HĐXX tiếp tục thẩm vấn về dự án gây thiệt hại lớn nhất, trị giá 469,5 tỉ đồng, trong thương vụ mua tàu Hoa Sen.

vinashin2

Trả lời câu hỏi của báo chí, ông Hoàng Sỹ Thành – Tổng cục trưởng Tổng cục thi hành án dân sự cho biết đến nay, phạm nhân Phạm Thanh Bình chưa thi hành án được đồng nào. Tài sản của ông ta đang được kê biên để xử lý. Sau này, những tài sản đó sẽ được định giá, bán đấu giá. Cơ quan chức năng sẽ tiếp tục xác minh tài sản khác nếu có.

“Trong vụ án Vinashin hiện mới thi hành được mấy chục tỷ đồng”, ông Thành nói.

Trước đó, vào năm 2012, sau phiên tòa phúc thẩm, Phạm Thanh Bình bị tuyên án 20 năm tù về tội Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Tòa cũng tuyên cựu chủ tịch Vinashin buộc phải bồi thường số tiền gần 500 tỷ đồng.

Trong vụ án xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, tòa còn tuyên 9 bị cáo phải liên đới bồi thường cho 6 công ty tổng cộng hơn 1.149 tỷ đồng và nộp án phí dân sự, hình sự và tiền phạt tổng cộng hơn 1,9 tỷ đồng.

Với câu hỏi gần đây xuất hiện thông tin Công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh không làm đơn yêu cầu thi hành án vì họ cho rằng không có thiệt hại. Công ty không yêu cầu ông Bình và những người khác phải bồi thường số tiền hơn 34,8 tỷ đồng theo quyết định của bản án.

“Vậy, nếu doanh nghiệp không làm đơn, ông Bình không phải đền tiền có đúng không”- một phóng viên đặt câu hỏi.

Theo Tổng cục trưởng Tổng cục thi hành án dân sự, áp dụng các quy định của Luật Thi hành án năm 2008 thì đây là dạng án theo đơn. Do đó, muốn thi hành án, phải có đơn đề nghị của tổ chức đó thì cơ quan có thẩm quyền mới tiến hành thi hành.

“Chúng tôi đã làm việc với Bộ Giao thông Vận tải về nội dung này. Bộ này đã yêu cầu doanh nghiệp đó làm đơn, nhưng họ cho rằng không bị thiệt hại nên từ chối”, ông Thành nói.

Vinashin: Kẻ trốn truy nã Giang Kim Đạt bị bắt giữ

Giang Kim Đạt khai nhận hành vi phạm tội tham ô, chiếm đoạt gần 19 triệu USD. Anh ta nguyên là Trưởng phòng Kinh doanh Công ty Vận tải Viễn Dương Vinashin.

Ngày 7/7, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) phối hợp với các lực lượng liên quan đã bắt giữ Giang Kim Đạt (38 tuổi, quê Thái Bình). Đạt nguyên là Trưởng phòng Kinh doanh Công ty TNHH Một thành viên Vận tải Viễn Dương Vinashin (Vinashinlines).

‘Cựu chủ tịch Vinashin chưa thi hành án được đồng nào’

Bị tuyên mức án 20 năm tù và buộc bồi thường gần 500 tỷ, cựu chủ tịch Vinashin hiện vẫn chưa thi hành án được đồng nào.

Giang Kim Đạt là bị can trong vụ án Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; Tham ô tài sản; Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Che giấu tội phạm, xảy ra tại Vinashinlines.

Tau-Hoa-Sen

Vụ mua tàu Hoa Sen đã gây thiệt hại lớn. Ảnh: Người lao động.

Vụ án này được Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố cuối tháng 8/2010. Trước khi khởi tố, Đạt bỏ trốn ra nước ngoài và bị truy nã đặc biệt (truy nã quốc tế).

Tại thời điểm khởi tố vụ án, bị can này được xác định là người được giao trực tiếp việc đàm phán mua tàu Cartour của Ý (tàu Hoa Sen). Tàu Hoa Sen là tàu biển cũ đã qua sử dụng và gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước.

Tại cơ quan điều tra, bước đầu Giang Kim Đạt đã khai nhận hành vi phạm tội tham ô, chiếm đoạt số tiền gần 19 triệu USD.

Sau khi bắt được Đạt, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang yêu cầu Cơ quan An ninh điều tra khẩn trương điều tra, mở rộng vụ án, sớm đưa nghi can ra xử lý trước pháp luật. Bộ Công an quyết định thưởng “nóng” cho mỗi đơn vị tham gia phá chuyên án 10 triệu đồng.

Nguồn: Sưu tầm

Vinashin Lines: Giang Kim Đạt và “phi vụ” tham ô 16 triệu USD

Các vụ án về Vinashin Lines có lẽ không còn xa lạ gì với chúng ta.

Nâng giá các hợp đồng mua tàu biển cũ, Giang Kim Đạt cùng hai cán bộ chủ chốt của Vinashin Lines đã chiếm đoạt gần 16 triệu USD.

Ngày 24/6, cơ quan điều tra Bộ Công an đã hoàn tất kết luận điều tra vụ án Tham ô tài sản và Rửa tiền xảy ra tại Công ty TNHH một thành viên vận tải viễn dương Vinashin (gọi tắt là Vinashin Lines).

Ba bị can bị đề nghị truy tố về tội Tham ô tài sản gồm Trần Văn Liêm, nguyên Tổng giám đốc công ty Vinashin Lines; Giang Kim Đạt, nguyên quyền Trưởng phòng kinh doanh Vinashin Lines; Trần Văn Khương, nguyên Kế toán trưởng công ty này. Bị can thứ 4 trong vụ án là Giang Văn Hiển (bố đẻ Giang Kim Đạt), bị đề nghị truy tố về tội Rửa tiền.

giang-trach

Giang Kim Đạt. Ảnh: Cơ quan công an cung cấp.

Cơ quan tố tụng xác định, từ tháng 5/2006 đến tháng 6/2008, công ty Vinashin Lines lập các dự án đầu tư mua tàu biển cũ không đảm bảo chất lượng về cho thuê lại.

Do năng lực điều hành yếu kém và vụ lợi cá nhân, những người được giao nhiệm vụ quản lý tại Vinashin Lines đã tìm cách chiếm đoạt tài sản của công ty thông qua việc mua, cho thuê tàu biển.

Theo cơ quan điều tra, các bị can đã nâng giá mua tàu cũ của công ty nước ngoài và hưởng tiền chiết khấu khi cho thuê 9 con tàu thuộc sở hữu của Vinashin Lines. Xác minh các giao dịch, Bộ Công an phát hiện Giang Kim Đạt được đối tác chuyển khoản gần 16 triệu USD sau các thương vụ mua tàu biển cũ.

Để che dấu nguồn tiền phạm pháp, Đạt nhờ bố đẻ là Giang Văn Hiền mở nhiều tài khoản ngân hàng để rút ngoại tệ, sau đó đem gửi tiết kiệm, mua ôtô và  40 biệt thự, căn hộ cao cấp, đất đai ở vị trí “vàng” khắp cả nước.

Cơ quan tố tụng cho biết, ngoài tài sản bị thu giữ, Giang Kim Đạt phải bồi thường cho công ty Vinashin Lines số tiền gần 249 tỷ đồng. Theo tài liệu thu thập, cơ quan điều tra xác định nguyên Tổng giám đốc công ty Vinashin Lines Trần Văn Liêm chiếm đoạt hơn 3,2 tỷ đồng, còn Trần Văn Khương chiếm đoạt số tiền 120.000 USD, khi ký và quyết toán các hợp đồng liên quan.

Trước đó, vào tháng 8/2012, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao đã tuyên phạt 9 bị cáo trong vụ án Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh té, gây hậu quả nghiêm trọng, xảy ra tại Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin), do Phạm Thanh Bình, nguyên chủ tịch HĐQT, nguyên Tổng giám đốc cầm đầu.

Giang Kim Đạt nằm trong danh sách những người bị truy tố nhưng trước đó đã trốn ra nước ngoài. Ngày 7/7/2015, lực lượng chức năng đã bắt giữ y theo quyết định truy nã quốc tế.

Nguồn:zing.vn

Hội An xưa – Kỳ 3: Lá đơn hơn 80 năm trước

Hội An – Địa danh nổi tiếng thu hút nhiều khách du lịch ngày nay. Tuy nhiên, liệu có nhiều người biết đến “truyền thuyết – cổ xử của chúng hay không ?” Trong kỳ 3 này chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu về : Lá đơn hơn 80 năm trước.
Nơi tìm thấy lá đơn của ông Huỳnh Cẩm Thành
Nơi tìm thấy lá đơn của ông Huỳnh Cẩm Thành

Đơn ngắn, viết bằng tiếng Pháp đề ngày 26.7.1932: “Kính thưa quan Công sứ. Tôi ký tên dưới đây Huỳnh Cẩm Thành, buôn bán ở Faifo, rất trân trọng kính xin quan vui lòng cho phép tôi được sửa chữa một đôi chỗ lặt vặt trên mái ngói và gạch lót trong nhà tọa lạc trên đường cầu Nhật Bổn số hiệu nhà 185”. Chỉ 4 ngày sau, viên chủ sự công chánh phê đồng ý, quan Công sứ cũng ký cho phép “làm theo chuẩn chấp trên đây” ngay hôm ấy. Cẩn thận hơn, đến ngày 2.8 lại thấy có viên chủ sự cảnh sát tiếp tục ký tên đóng dấu.

Chúng tôi lần tìm địa chỉ “185 đường cầu Nhật Bổn”. Tên cũ không còn sau 3 lần thay đổi sang các đường Cường Để, Nguyễn Văn Trỗi rồi Trần Phú. Nhà số 42 Trần Phú, nơi các nhóm sưu tầm tư liệu văn hóa dân gian bắt gặp lá đơn viết năm 1932, cũng đã qua vài đời chủ. Chỉ biết cụ Bửu Phất, một họa viên đạc điền làm việc tại Ty Công chánh Hội An, mua của chủ cũ họ Huỳnh hồi năm 1954. Cũng năm đó, vợ chồng cụ Bửu Phất sinh đứa con út Vĩnh Hoàng. Chính người con út thuộc thế hệ thứ 5 hoàng tộc nhà Nguyễn này hiện đang quản lý ngôi nhà, còn chủ cũ họ Huỳnh nghe tin đã sang Mỹ định cư và qua đời.

Chẳng rõ chủ cũ họ Huỳnh kia có mối liên hệ nào với ông Huỳnh Cẩm Thành, người ký dưới lá đơn năm 1932. Cũng khó biết đích xác liệu nhà số 42 Trần Phú bây giờ có đúng nhà số 185 đường Nhật Bổn ngày trước. Người viết chỉ nương theo câu chuyện cũ để thử xem, liệu sau này những người liên đới đến ngôi nhà có lá đơn “xin sửa lặt vặt” kia ứng xử ra sao với di tích.

Ông Vĩnh Hoàng nghe mẹ kể lại, khi dọn về nhà mới gia đình ông tốn hết 15 cây vàng để chỉnh trang và phát hiện lu tiền cổ trong vách phía sau. “Còn chuyện sửa nhà ấy à? Phải xin phép kỹ. Như hồi làm lại phần lầu phía sau, hay sửa mấy viên ngói bị bão thổi bay cuối năm ngoái… tôi đều có đơn xin đàng hoàng. Riêng năm 2011 tôi thiết kế lại gian trước để mở tiệm bán hàng da, muốn ốp gỗ lên tường chống ẩm nhưng khi làm gần xong lại phải dừng. Đội quy tắc đô thị bảo chỉ được ráp kệ gỗ”, ông Vĩnh Hoàng nói.

Mấy trăm năm nghiêm cẩn

Tòa Công sứ Pháp, nơi Bảo tàng Hội An tọa lạc bây giờ, cách không xa đường cầu Nhật Bổn cũ. Lá đơn soạn cẩn thận dù chỉ để “sửa lặt vặt” cùng với tiến độ xử lý đơn thư nhanh chóng… đã khiến giới nghiên cứu đặt vấn đề tìm hiểu ý thức thị dân ở phố Hội. Những tư liệu từ thời phong kiến cho thấy thời nhà Nguyễn chuyện quản lý đô thị đã hết sức nghiêm cẩn. Văn bản viết bằng chữ Hán năm Khải Định thứ 6 vừa sưu tầm được còn cho thấy người xưa thuê nhà cũng phải làm đơn từ sòng phẳng. “Nay chúng tôi xin thuê mướn lại để ở trong phố này, hạn trong một năm… đến sang năm vào ngày đầu tháng 2 thì chúng tôi phải dời đi giao phố này cho chủ mua nhận lại không được có lời trái lẽ nào, sợ nói miệng vô bằng nên lập tờ này lưu chiếu”, giấy thuê nhà của hai ông Lý Hòa, Lý Nhã viết.

Không kể đâu xa, thời chính quyền VNCH trước năm 1975, giấy phép xây nhà tại Hội An phải công bố công khai và cử cảnh sát phụ trách lĩnh vực theo dõi chặt, nếu sai sót sẽ xử nghiêm. Sau năm 1975, cả Hội An trở thành khu phố dệt, nhà nào cũng có khung cửi nhưng không vì thế mà người dân phá bỏ cột, vứt hoành phi câu đối để mở rộng không gian mưu sinh… Qua giai đoạn vắng vẻ của một “thị xã dưỡng già”, đến khi mở hội thảo quốc gia (năm 1985) và hội thảo quốc tế (năm 1990), giá trị của phố cổ Hội An ngày càng lộ diện, nhất là từ khi UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới (năm 1999).

Cũng từng trải qua những quyết định quản lý khó khăn, những vụ sửa nhà cổ biến tướng, nhưng vì sao Hội An vẫn âm thầm giữ phố? Không kể những chủ trương sát hợp để chủ nhà cổ có thể sống được với di tích, thì ý thức của cộng đồng dân cư cũng rất đặc biệt. Họ chưa giây phút nào quên mình đang bảo vệ di sản thiêng liêng của tổ tiên.

Không cho xâm hại di tích

Năm 1979, khi Trung Quốc tấn công ở biên giới phía bắc, có dư luận yêu cầu vứt tượng thần Phục Ba (thần chắn sóng, giúp thương nhân vượt thoát nguy hiểm theo tín ngưỡng người Hoa) thờ ở chùa m Bổn. Khi tiếp nhận ý kiến này, lãnh đạo Hội An báo cáo ông Hồ Nghinh, Bí thư Tỉnh ủy. Quyết định cuối cùng đưa ra: không được phép phá bỏ. Một vị lãnh đạo TP.Hội An bình luận, việc nghiêm cấm xâm hại di tích hồi đó là do ý thức cao về giá trị di sản của địa phương và cộng đồng người dân, chứ không phải đơn thuần chỉ bảo vệ để hướng đến “danh hiệu” nào đó của Hội An sau này.

Hứa Xuyên Huỳnh