Kỳ 2: Những băng nhóm tội phạm khét tiếng ở Đồng Nai

Thế giới ngầm luôn chìm đắm những bí ẩn và điều không thể lường. Thậm chí là Đại Ca cũng gặp những kết cục không ngờ tới.

Mưu sát đại ca

Sau khi ra tù và nhanh chóng chiếm lại vị thế đàn anh trong giới giang hồ Đồng Nai, Hưng “vườn điều” nhận thấy cần phải có những lực lượng nòng cốt nhằm oanh tạc trên chiếu bạc. Vì vậy, Hưng đã cất công ngược về phương Bắc tìm kiếm thủ hạ. Ngày trước, còn hoạt động ở Hải Phòng (vì thế hắn còn có tự là Hưng “Hải Phòng”), Hưng từng nắm trong tay nhiều đàn em thân tín nên chuyến ngược về này hắn muốn chiêu mộ những tay đao búa này vào cùng hợp sức làm ăn. Được khai thông thế bế tắc vì không có thủ lĩnh, đàn em của Hưng ở Hải Phòng răm rắp nghe theo lời đại ca Nam tiến tìm cơ hội bành trướng. Cùng đi trong chuyến này có nhiều tên cộm cán như: Đặng Quang Toàn (tự Toàn đen), Phạm Trung Tâm (tự Tâm còi), Trương Văn Thọ (tự Thọ đen), Lê Văn Hùng (tự Soi), Dương Văn Bằng (tự Bằng heo), Phạm Hữu Tước (tự Thành)…

Không chỉ hoạt động ở Đồng Nai, Hưng còn điều thuộc hạ ở các vùng lân cận như Lâm Đồng, Bình Dương, Vũng Tàu… bằng hàng loạt hoạt động phạm tội. Để thu lợi bất chính ông trùm Hưng “Hải Phòng” thường xuyên tham gia các chiếu bạc, đồng thời hắn cũng thường xuyên tổ chức những trò bài bạc bịp bợm để rút tiền thiên hạ. Nhiều lần ngay chính trong nội bộ của Hưng cũng có những cuộc sát phạt, thậm chí hớt tay trên của nhau, trong đó đa số là ông trùm Hưng “Hải Phòng” giành phần thắng. Quá tức tối vì đại ca giành lấy chén cơm của mình, Phạm Hữu Tước (tự Thành) đem lòng căm phẫn, nhen nhúm ý định sát hại đại ca.

Sự căm phẫn của Thành một ngày cũng bộc lộ khiến ông trùm Hưng “Hải Phòng” để ý. Biết đại ca có thể trừ khử mình nên Thành quyết định ra tay trước. Tối 15-6-2006, Thành đi cùng ba đối tượng lạ mặt tìm đến nhà Hưng với một ca axit 2 lít đậm đặc, ý định của hắn là muốn đưa đại ca của mình về “suối vàng”. Qua thăm dò, Thành biết được tối hôm đó, Hưng sẽ ở căn nhà số 2/2A đường Đồng Khởi, khu phố 6, phường Tam Hiệp (TP Biên Hòa), nên mai phục sẵn. Tuy vậy, cả buổi tối hôm ấy ông trùm không lộ mặt khiến Thành sốt ruột. Nghĩ trước sau gì cũng phải ra tay nên nhóm Thành quyết định bước tới gõ cửa nhà Hưng. Ngay lập tức, một gã đàn ông ra mở cửa, chỉ đợi có thế Thành tạt thẳng ca axit vào gã đàn ông ấy rồi nhanh chân tẩu thoát. Nhưng Thành đâu có ngờ, kẻ mà hắn ám hại lại không phải ông trùm Hưng “Hải Phòng” mà là Lê Văn Hùng (tức Soi) một đàn em thân tín của Hưng “Hải Phòng”.

Nhìn thấy đàn em mình lăn lóc trong đau đớn, Hưng “Hải Phòng” uất ức trào dâng. Ngay trong đêm, hắn huy động đàn em tìm bằng được Thành để thanh toán tên phản trắc, nhưng tối đó Thành đã cao chạy xa bay. Hưng “Hải Phòng” không cho đàn em lộ tin tức ra ngoài.

muu-sat

Cái chết bí ẩn của Thành khiến giới giang hồ Đồng Nai nghi ngờ người đứng sau là Hưng “vườn điều”. Ảnh minh họa

Bành trướng từ cái chết bí ẩn

Ngay sau khi Phạm Hữu Tước (tức Thành) gây án, hắn đã trốn biệt lên tỉnh Lâm Đồng để hoạt động. Kế hoạch sát hại của Thành thất bại, hắn đã tạo nên mối thâm thù với ông trùm Hưng “Hải Phòng”. Tuy vụ tạt axit không lấy đi sinh mạng của Soi nhưng với ông trùm Hưng “Hải Phòng” là một sự đe dọa lớn. Mối hiểm họa khôn lường ấy khiến Hưng ngày đêm nơm nớp, quyết tìm bằng được Thành để rửa hận. Một thời gian dài Hưng lưu tâm vụ này và tung đàn em ra khắp hang cùng, ngõ hẻm tìm cho ra kẻ phản trắc. Mọi hành động của ông trùm Hưng “Hải Phòng” nhằm khẳng định uy tín thủ lĩnh đồng thời cũng tránh điều tiếng chê bai của đàn em rằng hắn là kẻ hèn nhát. Bởi vậy, hành động của Hưng “Hải Phòng” khiến giới giang hồ không thể nào lường được y sẽ làm gì và năng lực tới đâu.

Tung tích của Thành trốn ở miệt vườn Lâm Đồng nhanh chóng bị tai mắt của Hưng “Hải Phòng” điều tra được. Sau hơn nửa năm rời Đồng Nai, Thành ung dung hoạt động bài bạc trên cao nguyên mà ngỡ rằng hắn đã an toàn. Hắn đâu ngờ ngày 3-1-2007, khi đi ngang khu vực hẻo lánh thuộc xã Tân Hà (huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) hắn đột nhiên bị bốn thanh niên chặn đường rút dao lạnh lùng tước đi mạng sống. Cái chết của Thành bí ẩn, không để lại manh mối gì khiến cơ quan chức năng khó khăn, ban đầu chỉ điều tra ra được 4 kẻ gây án là người Hải Phòng. Sau khi Thành bị giết, dư luận và đặc biệt giới giang hồ Đồng Nai bắt đầu đồn đoán rằng, kẻ đứng sau vụ thanh toán đó chính là Hưng “Hải Phòng”. Cũng từ những đồn đoán ấy mà ông trùm Hưng “Hải Phòng” tự dưng được giới giang hồ nể sợ.

Sau khi tiếng tăm được đồn đại, Hưng càng thể hiện được vị trí đàn anh với giới giang hồ Hải Phòng đang phục vụ cho y. Hàng loạt đối tượng cộm cán khác không mời mà đến cũng nguyện phục vụ dưới trướng của Hưng như: Nguyễn Bùi Đức Cường (SN 1970), Trần Danh Đoàn (tức Đoàn móm, SN 1977), Nguyễn Văn Điền, Nguyễn Ngọc Anh (tức Thông điếu), Nguyễn Trọng Hoàng (tức Hoàng canh), Dương Văn Bằng (tức Bằng heo, SN 1973), Âu Văn Mai (tức Mai sò, SN 1960), Tú lạc, Lê Văn Sánh (SN 1966), Phan Kim Châu (tức Châu cao, SN 1974), Nguyễn Văn Bảy (tức Bảy hói, SN 1976), Nguyễn Văn Long (tức Long què, SN 1968), Bùi Đức Tiến (SN 1977), Vũ Minh Tuấn (SN 1979)…

Đất Biên Hòa đột nhiên có hai gã lưu manh dần trở thành kẻ thù không đội trời chung. Trong khi Long Thanh ra sức kiếm tiền bằng những hoạt động phi pháp thì Hưng “Hải Phòng” dựa vào đàn em có máu mặt đã uy hiếp thâu tóm nhiều băng nhóm nhỏ khác. Cũng chính bởi thế mà những món lợi bất chính vào với Hưng ngày càng nhiều. Trừ băng nhóm của Long Thanh, ở đất Đồng Nai không một băng nhóm nào dám đương đầu với Hưng. Mỗi lần có dịp ghé thăm băng nhóm nào là Hưng lại chỉ đạo đàn em dùng thế lực để áp đảo đối phương nhằm chiếm địa bàn. Địa bàn hoạt động của băng nhóm Hưng “Hải Phòng” trải từ TP Biên Hòa đến các huyện lân cận như Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu, Trảng Bom…Ngoài hoạt động mở rộng địa bàn, khi có mâu thuẫn với các băng nhóm khác mà Hưng cảm thấy không qua được thì hắn chủ động đứng ra dàn xếp ổn thỏa như ý.

Thời điểm tổ chức bài bạc bịp của Hưng “Hải Phòng”, nhiều băng nhóm nhỏ khác bị CA vây bắt trọn ổ. Thấy vậy, Hưng “Hải Phòng” cho rằng cần phải có hoạt động tinh vi hơn. Hưng “Hải Phòng” biết rằng không thể tổ chức bài bạc ngay tại trung tâm TP bởi sự theo dõi gắt gao của CA. Nhận thấy vườn điều là nơi tổ chức bài bạc lý tưởng, Hưng đã cho đàn em tổ chức sòng bạc tại đây. Ở những khu vực này, các con bạc tha hồ sát phạt dưới sự cảnh giới của đàn em Hưng. Khi hoạt động này bị phát giác, chúng nhanh chóng tẩu thoát không để lại manh mối nào. Chính bởi sự “an toàn” này mà hầu hết các dân chơi đều ủng hộ Hưng “Hải Phòng”. Nhưng cũng từ đây, Hưng khiến nhiều kẻ tan cửa nát nhà vì bị bịp bợm lấy hết tiền của. Nể phục trước phương thức làm ăn của ông trùm Hưng, nhiều tay giang hồ đặt cho y biệt danh Hưng “vườn điều” để khẳng định, ở các chiếu bạc ngoài vườn điều chỉ có y là số một.

Kỳ 1: Những băng tội phạm khét tiếng một thời tại Đồng nai

Long Thành – Đồng Nai có lẽ là nơi xảy ra nhiều vụ cố ý gây thương tích, đánh bài, chiếm đoạt tài sản…nhất. Hãy cùng chúng tôi điểm danh các bang nhó tội phạm khét tiếng một thời tại đây.

Trong một thời gian dài người dân Đồng Nai hễ nghe thấy tiếng tăm các ông trùm như Long Thanh, Hưng “vườn điều”, Châu “cao”, Mai sò, Hòa Phố, Huy “Pro”, Cương “cầu Xéo”…là kinh hồn bạt vía. Để triệt phá những băng nhóm này, CA tỉnh Đồng Nai đã lập ra những chuyên án bí mật, “cất mẻ lưới” đánh tan hoạt động phi pháp của các đối tượng.

Kẻ hai lần vào tù

Giới giang hồ đất cảng Hải Phòng trước năm 1990 đã bắt đầu để ý đến cái tên Phạm Duy Hưng (SN 1967, quê Hải Phòng). Thời điểm này, bà trùm Dung Hà xưng hùng xưng bá trong chốn giang hồ. Thời hưng thịnh, bà trùm này từng đụng độ chuyện làm ăn với nhiều ông trùm lớn phương Nam như ông trùm Năm Cam (TP HCM) và chẳng bao giờ chịu kém cạnh kẻ nào. Nghiễm nhiên hoạt động của bà trùm này ở đất Hải Phòng phải thuộc dạng chiếu trên, trong thế giới ngầm.

Trước năm 1990, nhiều chuyện làm ăn của Hưng bất thành do có sự cạnh tranh, Hưng bắt đầu nghĩ hắn phải vùng lên, cạnh tranh với những kẻ dám đương đầu giành chuyện làm ăn với hắn. Có lợi thế là kẻ biết về cấu tạo và hoạt động của các loại súng ống, Hưng nảy sinh kế hoạch tìm vũ khí nóng cho các băng nhóm giang hồ. Hưng cùng một số đàn em thân tín về những miền biên giới để tìm mua. Sau đó hắn móc nối với các ông trùm băng đảng ở Hải Phòng để phục vụ cho những cuộc thanh toán lẫn nhau. Hoạt động bành trướng của ông trùm cung cấp vũ khí rất tinh vi nhưng cũng sớm bị CA Hải Phòng phát hiện. Khi CA Hải Phòng ập vào nhà Hưng, trong nhà hắn đang tàng trữ một số vũ khí nóng trái phép. Hắn nhanh chóng bị tóm gọn và ra trước vành móng ngựa.

Sau khi ra tù năm 1991, Hưng không ngờ rằng ở đất Cảng đã đổi thay quá nhiều. Hưng ra tù với hai bàn tay trắng, đàn em đã đầu quân cho những thế lực mới, hắn trở thành kẻ bơ vơ. Biết giang hồ sóng sau xô sóng trước, Hưng hết đất làm ăn ở Hải Phòng hắn bèn nghĩ đến nơi nương tựa mới. Bấy giờ, giới giang hồ miền Nam có đôi phần nể phục những hoạt động của những băng nhóm tội phạm ở miền Bắc, đặc biệt là những băng nhóm nổi trội ở đất Cảng. Nghĩ đến điều này, Hưng tìm cách bỏ quê nhà đến Đồng Nai. Trong đầu Hưng luôn nghĩ, một ngày nào đó khi xây dựng được thế lực, hắn sẽ quay lại quê nhà.

Khi rời quê nhà vào Đồng Nai, Hưng thường trú tại phường Tân Hiệp (TP Biên Hòa). Hưng bắt đầu có những phi vụ phạm tội. Thời gian sau năm 1991, Hưng chỉ xem Đồng Nai là nơi nương tựa tạm thời của hắn, hắn vẫn thường lui tới giữa Đồng Nai và các tỉnh phía Bắc để hoạt động phạm tội nhằm tránh bị theo dõi bởi lực lượng chức năng. Ở Hải Phòng, tuy đàn em của Hưng một số đã đầu quân cho những băng nhóm khác nhưng khi đại ca Hưng trở về chúng vẫn tiếp đón. Khi Hưng trình bày một số phương án làm ăn ở mảnh đất mới, hắn nhanh chóng được các đàn em ủng hộ.

Từ đó, Hưng và đàn em thường xuyên có những phi vụ phạm tội táo tợn. Sau này những hoạt động phạm tội của ông trùm này mới được phanh phui và hắn phải chịu tội. Ở Đồng Nai lúc bấy giờ các băng nhóm tội phạm chỉ mới nhen nhúm thì chỉ nghe danh của ông trùm Hưng “Hải Phòng” là bạt vía. Nhưng hoạt động của Hưng nhanh chóng bị CQCA Đồng Nai phanh phui, và đến năm 2001, Hưng bị TAND TP Biên Hòa tuyên phạt 12 tháng tù giam vì tội “cưỡng đoạt tài sản”.

toi-pham

Đối tượng Nguyễn Văn Long, tự Long Thanh. – Đối tượng Phạm Duy Hưng, tự Hưng “vườn điều”.

Và kẻ đối đầu

Khi “ông trùm” Hưng “Hải Phòng” xộ khám thì Nguyễn Văn Long (tự Long Thanh, SN 1979, ngụ phường Hố Nai, TP Biên Hòa, Đồng Nai) kẻ mà sau này sẽ trực tiếp đối đầu với Hưng, bắt đầu được trả tự do. Long vốn chẳng có gì để giới giang hồ Đồng Nai lúc bấy giờ phải chú ý bởi y chưa hề có thành tích nào nổi trội đáng nể phục. Thủa nhỏ, Long vốn là con út trong gia đình nên hắn được chiều chuộng hết mực. Đến lúc Long ở độ tuổi trưởng thành hắn thường chơi bời với những thành phần bất hảo ở địa phương rồi tham gia những trò chơi đỏ đen. Trong quá khứ của Long, hắn cũng từng đánh bạc, tổ chức đánh bạc ở quy mô nhỏ và khi thua trận, nợ nần chồng chất hắn sẵn sàng sử dụng thủ đoạn mạt hạng “ăn cắp”. Ngay cả ngoại hình của Long cũng không có gì gọi là phi phàm, dữ tợn khi sở hữu tóc hai mái, mặt quắt tai dơi, da trắng bợt thiếu sức sống.

Tròn 20 tuổi Nguyễn Văn Long đã phải đi trại giáo dưỡng vì tội trộm cắp tài sản. Đến tháng 1-2001 mãn hạn 2 năm giáo dưỡng, nhưng bản chất ham chơi biếng làm đã ăn sâu trong con người hắn, mộng bá chủ Đồng Nai bắt đầu được hắn nhen nhúm. Để xây dựng thanh thế, Long dựa vào miệng lưỡi, bịa đặt ra những câu chuyện mà trong câu chuyện ấy hắn tỏ ra là kẻ nguy hiểm, hành động côn đồ. Vào thời gian này, Long không có nghề nghiệp ổn định, tài sản của Long chỉ là chiếc xe Honda đời 78, hắn bắt đầu manh nha tiến đến các sòng bạc trên địa bàn phường Hố Nai để chơi. Nhờ vào khả năng của mình, Long thắng nhiều trận bạc nên được một số đàn em tin cậy. Thấy vậy, Long bắt đầu xây dựng vây cánh, tổ chức những sòng bạc quy mô nhỏ chuyện chơi bịp bợm để móc túi dân có tiền. Suốt từ năm 2001 đến năm 2006, Long đánh bạc và tổ chức đánh bạc bịp với lực lượng đàn em hùng hậu hắn dần trở nên giàu có và chiếm vị trí đứng đầu trong giới giang hồ Đồng Nai cả về thế lực lẫn gia tài. Giang hồ Đồng Nai bắt đầu đặt cho hắn cái biệt danh Long Thanh, cái tên này đã đưa Long lên hàng chiếu trên trong giới giang hồ.

Lúc Long Thanh hoạt động và chiếm vị trí đứng đầu giới giang hồ Đồng Nai thì Hưng “vườn điều” vẫn còn nằm dài trong khám. Sau khi mãn hạn tù về tội cưỡng đoạt tài sản, tháng 2/2003 Hưng lại xộ khám vì tội tham gia đánh bạc. Trong thời gian này, Hưng còn bị nghi có dấu hiệu phạm tội liên quan đến việc chạy án ở tỉnh Hải Dương. Theo hồ sơ, năm 1998 tại Hải Dương, Hưng đã gây ra tội cướp tài sản và làm nhục người khác. Ngay sau khi gây ra vụ việc, Hưng trốn biệt vào Nam và bị phát lệnh truy nã. Khi Hưng đang thụ án 6 tháng vì tội tham gia đánh bạc tại huyện Vĩnh Cửu (tỉnh Đồng Nai), thì y bị phát hiện là đối tượng đang bị truy nã nên cơ quan tố tụng tiếp tục tăng nặng hình phạt của y.

Năm 2006, Hưng ra tù. Lúc này hắn biết Long Thanh là kẻ đang chiếm vị thế của mình nhưng hắn không màng tới vì rằng Long Thanh chỉ là hạng tép riu trong mắt Hưng. Vừa ra tù, Hưng đã sớm quay lại con đường tội phạm, bên cạnh đó hắn được một số giang hồ cộm cán nguyện phục vụ dưới trướng vì những “thành tích” nằm khám của Hưng.

Sự trở lại của “ông trùm” gốc Hải Phòng
Hưng tập hợp đàn em tổ chức đánh bạc ở những khu vườn trống để tránh tai mắt. Có thời điểm Hưng còn huy động giang hồ đất Cảng vào để sát phạt.

Phần 6: Các băng tội phạm khét tiếng một thời tại Đồng Nai

Cùng chúng tôi điểm qua những băng tội phạm khét tiếng một thời tại Đồng Nai.
Việc Long Thanh và Hưng “vườn điều” tranh nhau “miếng mồi ngon” đã hình thành nên mối “huyết hải thâm thù” giữa đôi bên. Những trận chiến xảy ra là không tránh khỏi. Mọi chuyện được đẩy lên đỉnh điểm bằng việc Hưng “vườn điều” ủ mưu thực hiện kế hoạch thanh trừng đối thủ.

Cuộc chiến không khoan nhượng

Từ một kẻ “vô danh tiểu tốt”, Long Thanh bằng thủ đoạn liều lĩnh, ma mãnh nhanh chóng leo lên vị thế “ông trùm” xã hội đen tại TP Biên Hòa. Gã thường lĩnh xướng những trận chiến hạ bệ mọi đối thủ. Trong một thời gian dài, các băng nhóm hoạt động ở Đồng Nai nghe tiếng “ông trùm” Long Thanh đều kinh hồn bạt vía.

Tuy nhiên, đời sống thế giới ngầm vốn tiềm ẩn nhiều mối họa, Long Thanh tự cho mình là kẻ “bề trên” vì thế không thiếu kẻ muốn lật đổ hắn. Tuy nhiên, với Hưng “vườn điều”, trước đây hắn chỉ xem Long Thanh là đứa trẻ “vắt mũi chưa sạch”. Từ đó, giang hồ Đồng Nai hình thành nên hai băng thù địch. Và chính sự xem thường của Hưng “vườn điều” đã khiến Long Thanh nuốt những đắng cay trong lòng mà đợi chờ, chắt chiu từng cơ hội chờ phục hận.

Nếu dưới trướng Long Thanh có lực lượng đàn em hùng hậu thì bên cạnh Hưng “vườn điều” luôn sẵn có những tay “đồ tể”, máu lạnh sẵn sàng đổ máu vì đại ca. Nhưng trong hoạt động và va chạm, Long Thanh luôn là kẻ chiếu trên. Vì vậy, những hiềm khích khiến chuyện chúng cho đàn em tới gây rối địa bàn của nhau xảy ra như cơm bữa. Cụ thể như những tranh chấp ở sòng bạc tại quán cà phê Thảo Anh (thuộc khu phố 1, phường Tân Hòa, TP Biên Hòa) do Nguyễn Minh Hoàng (Hoàng “tá lả”, đàn em của Hưng “vườn điều”) tổ chức.

Nhận thấy quán cà phê Thảo Anh đem lại nguồn lợi kếch xù cho đối thủ, Long Thanh bí mật chỉ đạo đàn em tới quậy phá. Nhiệm vụ đó tất nhiên được giao cho hai đệ tử trung thành là Quang “chiếu”, Tùng “gà” trực tiếp chỉ huy đàn em đến gây chiến. Một ngày đầu năm 2010, quán Thảo Anh đang lúc đông khách, Quang “chiếu” và Tùng “gà” cùng hàng chục tên đàn em vẻ mặt hầm hố xuất hiện. Hai gã đầu gấu tới ngỏ ý mượn Hoàng “tá lả” 70 triệu đồng để giải quyết công việc. Hoàng “tá lả” đâu dễ cam tâm “ném tiền qua cửa sổ” mới tìm cách thoái thác. Đôi bên cự cãi gay gắt, Quang “chiếu”, Tùng “gà” dọa cho đệ tử san bằng quán Thảo Anh. Toàn “đen” lần đó mang danh nghĩa của Hưng “vườn điều” đứng ra sắp xếp, nào ngờ dính phải trận địa phục kích bị đánh “thừa sống thiếu chết”.

Bị sỉ nhục, Toàn “đen” tuyên bố sẽ trả thù bằng được 2 tên giang hồ có thủ đoạn, chuyên đánh lén người khác. Lần đó, Toàn “đen” liên lạc nhờ các huynh đệ tận “căn cứ” Hải Phòng vào trợ chiến. Tuấn và Huy, những giang hồ “trà Bắc” được Toàn “đen” đài thọ tiền chơi bời, ăn uống nhận nhiệm vụ Nam tiến trả thù giúp đại ca. Một buổi tối, Toàn “đen” phát hiện Nguyễn Hoàng Phi Hùng (tức Huy “cống”, đàn em của Tùng “gà”) đang ngồi nhậu cùng đám lâu la, Toàn “đen” đã chỉ đạo huynh đệ vác mã tấu đuổi chém tới tấp. Hành động đó chỉ là chiêu “khích tướng” dụ Quang “chiếu”, Tùng “gà” lọt vào cái bẫy hắn giăng sẵn. Tuy nhiên, hai tên giang hồ lõi đời đủ thông minh để hiểu ra quỷ kế thâm độc, chấp nhận biến Huy “cống” thành “vật thí mạng”. Chúng lặng lẽ rút lui chờ ngày rửa hận.

Không trả được thù, Toàn “đen” lại tốn thêm chi phí cho đám huynh đệ Hải Phòng. Sau phi vụ này, Huy “cống” không trình báo CQCA mà lặng lẽ chữa trị xong vết thương rồi biệt tích.

hung-a

Hưng “vườn điều” mập lên sau thời gian bị tạm giam.

Giăng bẫy…

Vị thế Hưng “vườn điều” có lúc bị đe dọa nghiêm trọng. Long Thanh lần lượt chỉ đạo đàn em phá rối các sòng bạc Hưng “vườn điều” bảo kê, gây dựng. Chuyện Toàn “đen” bị nhóm đàn em Long Thanh chém gục tại chỗ ở quán cà phê Thảo Anh càng khiến Hưng “vườn điều” muôn phần tức giận.

Oán thù giữa hai băng nhóm Long Thanh, Hưng “vườn điều” cứ thế chồng chất. Hưng “vườn điều” và đàn em quyết lập kế hoạch bằng mọi giá thủ tiêu Long Thanh. Ngược lại ông trùm trẻ tuổi đủ ma mãnh để duy trì thế thượng phong. Trong thời gian này, hai gã đại ca tỏ ra vô cùng cẩn trọng từng đường đi nước bước. Chúng hiểu chỉ cần mắc phải một sai lầm nhỏ thì không chỉ “cơ đồ” gầy dựng bao nhiêu năm tan biến mà tính mạng cũng khó được bảo toàn. Những cuộc thanh trừng bắt đầu chuyển sang giai đoạn “du kích”, đánh lén.

2-hung

Toàn “đen” gã đàn em thân tín của Hưng “vườn điều”.

Băng nhóm phải nhận thất bại trước vẫn là Hưng “vườn điều”. Số là sau lần Huy “cống” phải chấp nhận phận tốt thí thay cho Quang “chiếu”, Tùng “gà” thì nhóm này quyết tìm Toàn “đen” trả thù. Ngày 10-4-2010, cơ hội ngàn năm có một khi băng Long Thanh phát hiện Toàn “đen” cùng một vài tên lâu la đi bộ trên đường tại ngã tư Phú Thọ, phường Trảng Dài, TP Biên Hòa. Tùng “gà”, Quang “chiếu” bí mật gọi cho 20 tên đàn em mang theo dao, kiếm, mã tấu… phục kích xông đến chém. Đám đàn em của Toàn “đen” chạy tan tác, hắn thân cô thế cô chỉ còn đường bỏ chạy.

Toàn bị dính nhiều nhát chém chí mạng nhưng vẫn cố dùng chút sức tàn chạy thoát thân. Về được đến nhà, Toàn “đen” đóng cửa chốt then lục tìm cây súng cất giấu trước đó. Bên ngoài băng nhóm Long Thanh đang cơn thịnh nộ la ó om sòm. Đợi khi cửa mở, Toàn “đen” chỉa thẳng súng vào đám đông nã đạn, tuy vậy hắn không làm ai bên đối thủ bị thương tích. Thấy Toàn “đen” có súng, nhóm Tùng “gà” mỗi tên một ngả rời đi. Thêm một lần nữa tên giang hồ khét tiếng Toàn “đen” may mắn thoát khỏi cửa tử. Gã đem chuyện kể với Hưng “vườn điều”, mong đại ca dốc toàn lực phục hận.

Chuyện của Toàn “đen” cộng với nỗi nhục Hùng “soi” trước đó khiến Hưng “vườn điều” chấp thuận đề nghị của đàn em. Trước đây, Hùng “soi” là ân nhân cứu mạng Hưng, cộng với tính cách ngang tàng, nghĩa khí của Hùng “soi” nên gã rất nể phục. Với Hưng “vườn điều” chuyện để cho đàn em Long Thanh từng bước thanh toán đàn em thân tín của mình chẳng khác nào cầm dao cùn cứa lên da thịt gã.

Hai băng nhóm Long Thanh, Hưng “vườn điều” hoạt động hết sức tinh vi. Mỗi khi có biến từ CQCA thì hai tên lại vờ bắt tay nhau xem như không có chuyện gì. Tuy vậy, những “họng súng âm thầm” của CQCA tỉnh Đồng Nai vẫn đêm ngày dò tìm động cơ và phương thức hoạt động của các đối tượng. Mọi việc được CQCA tiến hành âm thầm, tóm gọn đối tượng.

Vinashin: Giám Đốc dính bẫy siêu lừa khi đòi tiền Vinashin

Xoay quang từ Vinashin có khá nhiều vụ án trớ trêu. Hãy cùng chúng tôi đọc bài viết dưới đây

Thấy Tuấn nói có quan hệ với nhiều lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, có thể giúp mình đòi nợ Vinashin ông Cảnh tin tưởng, giao tiền tỷ mà không biết mình dính bẫy siêu lừa.

Ngày 16/5, TAND Hà Nội đưa bị cáo Lê Đức Tuấn (42 tuổi, ở quận Đống Đa, Hà Nội) và Nguyễn Văn Hưng (42 tuổi, ở Nga Sơn, Thanh Hóa) ra xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nạn nhân của 2 bị cáo là ông Cảnh – giám đốc Công ty Cổ phần Khai thác hạ tầng tại Quảng Ninh.

Theo tài liệu của cơ quan tố tụng, khoảng cuối tháng 10/2008, Tuấn tình cờ gặp ông Cảnh tại một hội thảo lớn được tổ chức ở Hà Nội. Tại đây, Tuấn được biết ông Cảnh đang tìm người giúp tác động đến Tập đoàn Vinashin để Công ty TNHH MTV Công nghiệp tàu thủy Cái Lân (thuộc Tập đoàn trên) trả khoản nợ đọng hơn 51 tỷ đồng cho mình. Thấy vậy, Tuấn nảy sinh ý định cấu kết với Hưng lừa tiền người đàn ông này.

 

vina-shin

Các bị cáo tại tòa. Ảnh: Vân Thanh.

Qua điện thoại, Tuấn nói với ông Cảnh mình quen biết nhiều lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, có thể tác động Tập đoàn Vinashin trả nợ. Tin tưởng Tuấn, vị chủ nợ bất đắc dĩ nhờ anh ta tác động giúp với tiền công 10 – 15% trên tổng số nợ.

Thỏa thuận xong, Tuấn yêu cầu ông Cảnh đưa cho mình số tiền 70.000 USD (khoảng 1,2 tỷ đồng) và hồ sơ giấy tờ. Ngày nhận tiền, đối tượng còn yêu cầu ông Cảnh đi mua 3 chiếc điện thoại Vertu giá 7.200 USD/chiếc (khoảng 120 triệu đồng) làm quà biếu.

Nhận tiền, điện thoại xong, Tuấn chuyển cho Hưng theo yêu cầu của anh ta. Thấy nạn nhân “dễ tính”, Hưng cũng liên hệ, yêu cầu đưa cho mình 50.000 USD (khoảng 830 triệu đồng).

Quá hẹn, không thấy công nợ được thanh toán như lời hứa, ông Cảnh biết mình bị họ lừa nên đến cơ quan công an trình báo.

Tại tòa, Tuấn và Hưng không thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Cảnh như cáo trạng truy tố. Họ cho rằng đây là quan hệ vay mượn dân sự. Ngoài ra các bị cáo còn tố bị ông Cảnh dùng “xã hội đen” ép ký vào các giấy tờ nhận nợ…

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết thúc phiên tòa, HĐXX tuyên Tuấn 12 năm tù, Hưng 18 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Vân Thanh

Tài liệu bí mật về Tình báo Phạm Ngọc Thảo

Anh hùng Phạm Ngọc Thảo là người đã dựng ngọn cờ binh biến tại Sài Gòn trong nửa đầu thập kỷ 60 của TK XX tới khi hy sinh ở tuổi 43.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Thảo (Chín Thảo, Albert Thảo, 1922-1965) xuất thân trong một gia đình trí thức tôn giáo, cựu học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410 trong kháng chiến chống Pháp.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông được giao một nhiệm vụ chưa có tiền lệ trong lịch sử tình báo: Luồn sâu, hoạt động đơn tuyến, lợi dụng mâu thuẫn để đánh địch từ trong ra. Phạm Ngọc Thảo đã dựng ngọn cờ binh biến tại Sài Gòn trong nửa đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX tới khi hy sinh ở tuổi 43.
 

pham-thao

 Phạm Ngọc Thảo (cầm mi-crô), tháng 2/1965. Ảnh: Tạp chí Life.
Phương Tây biết đến Phạm Ngọc Thảo khá sớm, qua bài viết “Chiến tranh du kích ở Đồng bằng sông Mê Công tháng Chạp 1961: Cuộc chiến trên đồng lúa” của Man-côm Brao-nơ (Malcom Brown). Trong bài, Phạm Ngọc Thảo được đặc tả trên cương vị Tỉnh trưởng Kiến Hòa (tên Diệm đặt cho Bến Tre), là “một sĩ quan cấp tá dáng dấp như con mèo, tóc húi cua, với cái nhìn gây nao núng”. Brown cho biết, ông Thảo từng là cựu sĩ quan Việt Minh, nay là “biểu tượng của tinh thần chiến đấu” của Sài Gòn. Bài viết của Brown là đợt sóng ngầm, báo động về thực tế ở Nam Việt Nam: Ban ngày “thuộc về” chính quyền Sài Gòn tồn tại nhờ viện trợ Hoa Kỳ, ban đêm do cách mạng kiểm soát…
Một viên kim cương
Trong bài “Sự sụp đổ của dòng họ Ngô Đình” (Báo The Saturday Evening Post, 21-12- 1963), Stan-lây Các-nâu (Stanley Karnow) viết: “Viên trung tá sáng giá Phạm Ngọc Thảo… một trong những người trung thành nhất, gần gũi nhất với Diệm, đã miễn cưỡng nhập vào hàng ngũ chống đối. Ông Thảo đã bị thuyết phục rằng, chỉ có lật đổ chế độ Diệm mới cứu được đất nước”.
Trong Chiến thắng bị bỏ lỡ (Lost Victory, NXB Contemporary books, 1989, trùm CIA W. Côn-bai (Colby) cũng đôi lần nhắc đến Phạm Ngọc Thảo, và muốn gây cảm tưởng rằng Mỹ đã “mô phạm” trong việc ông Thảo bị sát hại. Trang 173 sách này viết: Mãi đến 1976, người Mỹ mới hay tin Phạm Ngọc Thảo từng “làm việc cho Cộng sản”. Nhưng lưu trữ được giải mật gần đây lại cho thấy, tình báo Mỹ đã rất sớm “quan tâm” đến Phạm Ngọc Thảo.
Chuyên gia lật đổ
Hàng chục tài liệu của CIA đả động đến Phạm Ngọc Thảo đã được giải mật sau chiến tranh. Ngày 11/9/1963, CIA soạn thảo Những bước tiến của Huỳnh Văn Lạng và Phạm Ngọc Thảo đối với mưu đồ đảo chính (Progress of Huynh Van Lang and Pham Ngoc Thao with plans for coup d’etat). Tài liệu nêu tên các tướng tá Sài Gòn liên đới gồm: Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Khắc Bình và… Nguyễn Hữu Hạnh.
Lưu trữ của Mỹ cho biết tiếp về Kế hoạch của Thủ tướng Nguyễn Khánh nhằm làm Hoa Kỳ dính líu vào Bắc Việt Nam (Prime Minister Nguyen Khanh’s plan to involve the United States in North Vietnam), 22-7-1964. Theo tài liệu này, ông Thảo được Mỹ đề nghị nhận định về khả năng đảo chính lật Nguyễn Khánh.
Chính lúc này, Oa-sinh-tơn (Washington) cần gấp một hậu phương ổn định ở miền Nam để đổ quân Mỹ vào, cũng như dựng đầu cầu đánh ra miền Bắc, sang Lào. Nhưng Điều tra về cơ may đứng vững của chính quyền Sài Gòn (Chances for a stable government in South Vietnam) của SNIE (cơ quan tình báo Hoa Kỳ làm chức năng dự báo chiến lược) đề ngày 8/9/1964 lại viết: “Sân khấu chính trị-xã hội miền Nam Việt Nam rúng động, Việt Cộng ngày càng mạnh lên, ý thức chống Mỹ sâu sắc hơn, mâu thuẫn của chính quyền quân phiệt với các bộ phận dân cư tăng lên, chia rẽ đảng phái, sắc tộc, giáo phái sâu hơn, và nhất là phe Phạm Ngọc Thảo và một số sĩ quan đang mưu đồ đảo chánh…”. Các cuộc đảo chính sẽ được báo chí gán cho người này, người khác cầm đầu. Nhưng trong ống kính tình báo Mỹ, chỉ hội tụ cái tên Phạm Ngọc Thảo. Tướng Oét-mô-len (Westmoreland) trong hồi ký của mình đã gọi Phạm Ngọc Thảo là “nhà đảo chính chuyên nghiệp”.
 

pham-ngoc-t

 Trang đầu bức điện Đại tá Phạm Ngọc Thảo của William Colby gửi từ Sài Gòn cho McGeorge Bundy, Cố vấn an ninh của Tổng thống Johnson, 4/6/1965. Giải mật 12/8/1987. Nguồn: 00780 Col. Pham Ngoc Thao (June 4, 1965) Memorandum; SECRET; SANITIZEDDeclassified: September 1, 1987.
Theo tài liệu Kế hoạch đảo chính của Đại tá Phạm Ngọc Thảo (Plans of Col. Pham Ngoc Thao to mount a coup, 28/8/1964), Mỹ cho rằng nếu cuộc đảo chính nổ ra, Trần Thiện Khiêm sẽ không trở tay kịp; chính phủ mới, nếu phe đảo chính lên nắm quyền sẽ gồm: Phạm Ngọc Thảo làm Thủ tướng, Dương Văn Minh hoặc Phan Khắc Sửu sẽ được đôn làm Quốc trưởng…
Hôm sau, 29/8/1964, CIA ra liền hai báo cáo nhan đề Phạm Ngọc Thảo: Tóm tắt lý lịch và phân tích về nhân sự này và Phạm Ngọc Thảo tìm cách giành sự ủng hộ cho cuộc đảo chính, theo đó, CIA mong rằng Phạm Ngọc Thảo sẽ khó nhận được sự hỗ trợ của không lực Việt Nam Cộng hòa (cầm đầu là Nguyễn Cao Kỳ). Ngày 30/8/1964, theo điện mật Các phe phái đều chuẩn bị đảo chính, sắp có đảo chính khả thi (!), một khi cả phe Phạm Ngọc Thảo và phe các tướng thuộc Đảng Đại Việt đều chuẩn bị đảo chính. Ngày 1/9/1964 là lúc người Mỹ thấy cần phải điều tra, khảo sát các chỉ huy quân Sài Gòn và khả năng thành bại của một cuộc đảo chính, nếu xảy ra (Tài liệu Loyalties of the Armed Forces commanders and the possibility of success if a coup d’etat is attempted: Situation appraisal as of 31 August 1964). Trong 30 tướng tá cao cấp, Phạm Ngọc Thảo vẫn ở tiêu điểm: Tên ông đứng thứ hai, sau Nguyễn Khánh.
Nhưng cuộc đảo chính 19/9/1964 dẫn đến Nguyễn Khánh phải từ nhiệm ngày 23/10, theo phát hiện của CIA, chính là kế hoạch cướp chính quyền bất thành của Việt Cộng (điện mật Mưu toan lật đổ 13/9, Attempted coup on Sept.13). Chính giới Sài Gòn không thể không nhận thấy rằng, cuộc đảo chính hôm 19/9, tuy bất thành, đã làm đổ bể lễ ký kết thỏa thuận đổ quân vào miền Nam và giội bom miền Bắc của trục Oa-sinh-tơn – Sài Gòn, dự định vào ngày 20/9/1964.
Ngày 4/3/1965, Oa-sinh-tơn lại được tin về âm mưu đảo chính (Coup rumors in Saigon, 4/3/1965). “Bọn tiểu tướng hung hăng”: Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Đặng Văn Quang, Lê Nguyên Khang, Vĩnh Lộc, Dư Quốc Đống… bắt đầu thục mạng chọi nhau giành ngôi chủ soái, nhân Nguyễn Khánh bị đẩy đi lưu vong. Tháng Năm đến, Nguyễn Văn Thiệu, mới chỉ định dạng trong hồ sơ của CIA năm 1964, đã bẩm báo cho chủ Mỹ về một âm mưu đảo chính của Phạm Ngọc Thảo trong công văn Mật vụ dự báo cho Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn Văn Thiệu về một mưu đồ đảo chính vào 20/5, cùng các biện pháp đối phó của chính phủ. Theo điện mật này: Cuộc đảo chính sẽ do Phạm Ngọc Thảo chỉ huy, với hiệp trợ của Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và Nhóm tướng Đà Lạt, tức là Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Văn Vỹ; cuộc đảo chính sẽ do Đảng Cần Lao nhân vị tài trợ. Phe của Thiệu sẽ đối phó bằng lực lượng phản đảo chính và sự chiêu hàng các phần tử nổi loạn…
Thánh tử vì đạo
Bị kẻ địch phản kích quyết liệt, cuộc binh biến tháng Năm của ông Chín Thảo bị dập tắt. Bản thân bị truy nã, mọi phương tiện của ông Thảo cạn kiệt, quân sĩ tan tác. Nhưng khi nhiệm vụ còn dang dở, Phạm Ngọc Thảo quyết không rời trận địa.
Tài liệu Đại tá Phạm Ngọc Thảo (Colonel Pham Ngoc Thao, 4/6/1965), đánh số 00780, do William Colby, Phó giám đốc về kế hoạch cơ quan CIA ở Sài Gòn viết như sau:
1. Đã phát hiện được Phạm Ngọc Thảo tung tăng lượn phố (circulating freely) giữa Sài Gòn, và giúp đỡ chủ bút của một tờ báo bí mật.
(Hai đoạn số 2 và 3 bị CIA xóa khi giải mật!!!).
4. Vấn đề này quả là nghiêm trọng, trên hai phương diện. Thứ nhất, chính quyền hiện hành của Việt Nam Cộng hòa vẫn ngại ngùng, không có chủ trương bắt và hành hình Phạm Ngọc Thảo. Còn rất ít nghi ngờ về chỗ ẩn nấp của Thảo ở Sài Gòn, cũng như một kế hoạch phối hợp cảnh sát để bắt giữ Thảo. Chính quyền Sài Gòn lại luận giải một cách chắc chắn rằng Thảo là một biểu tượng của người Công giáo, tới mức, việc bỏ tù/thủ tiêu Thảo trong tình hình như thế này sẽ gây bùng nổ. Cách suy luận như thế của Thủ tướng Quát lại được dung túng bởi công văn số 4003 ngày 2/6 của Sứ quán Mỹ từ Sài Gòn, theo đó đại sứ Taylor báo cáo rằng Quát đã nhất trí để cho Thảo và một số người khác bí mật rời đất nước, cho dù chính Quát hiểu rằng cần có một kỷ luật cấp quốc gia cao hơn.
5. Vấn đề thứ hai là cốt cách của Thảo. Ông ta tin vào sứ mạng cứu nhân độ thế, xả thân vì dân tộc mình, như một thiên sứ. Ông ta biết rõ mình phải làm gì. Lung lạc được Thảo bởi tiền tài hay hình phạt, kể cả tử hình, để ông ta ngừng tạo ra tình thế chỉ có lợi cho một mình Việt Cộng, rõ ràng là điều không thể. Việc Thảo không sợ bị trừng phạt còn do ông ta được bảo trợ bởi các thủ lĩnh quân sự Công giáo. Cũng không có bằng chứng rõ rệt rằng, Thảo đang không được Việt Cộng hỗ trợ một cách bí mật…
Vì chính phủ Phan Huy Quát chần chừ trong khủng bố, đàn áp, Mỹ quyết định đôn lên nhóm tay sai khát máu hơn. Ngày 24/6/1965, lý lịch kẻ giúp Mỹ đàn áp Phạm Ngọc Thảo trong chính biến tháng Năm, Nguyễn Văn Thiệu, được CIA trình thượng cấp. Được thăng chức “Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia”, Thiệu lập tức lùng bắt Phạm Ngọc Thảo để thủ tiêu. Ngày 16/7, an ninh quân đội Sài Gòn vây ông Thảo ở Tam Hiệp, Biên Hòa. Bị trọng thương, Chín Thảo bị bắt ngay hôm sau. Kẻ thù đã dùng cực hình man rợ đến cực điểm để tra tấn ông Thảo cho đến chết ngay trong đêm đó. Ngay sau đó, tin ông Thảo từ trần trong một tai nạn đã được tung lên các báo Sài Gòn.
Trở lại công văn Đại tá Phạm Ngọc Thảo 4/6/1965, Colby viết tại điểm 7: “Chúng tôi nhận thức rõ sự cần thiết của việc không được làm cho Thảo, về mặt chính trị, trở thành vị thánh tử vì đạo (political martyr)”. Nhưng mưu đồ này đã thất bại. Các nguồn tin ở Sài Gòn sau đó cho biết, chịu mọi cực hình tàn khốc đến chết, ông Thảo đã không hé môi về bất cứ quân nhân hay chính khách của chế độ Sài Gòn, từng là đồng minh trong đảo chính của ông, hay bất kỳ một thông tin gì khác. Theo chuẩn mực tôn giáo, ông đã trở thành bậc Thánh, chịu thống khổ để cứu nước nhà. Danh hiệu này, cùng chữ martyr (thánh tử vì đạo), vô hình trung, đã được CIA dùng chỉ ông Thảo trong công văn ngày 4/6/1965 nói trên.
Theo Quân đội nhân dân

[Cập nhật] Tình báo Phạm Ngọc Thảo kỳ 8 – Cái chết bi thảm và sứ mệnh hoàn hảo

“Tôi biết chắc những người có dụng ý loại trừ Thảo không muốn chuyện bắt bớ kéo dài kéo theo nhiều chuyện lôi thôi. Bởi họ không thể không biết Đại tá Phạm Ngọc Thảo rất được cảm tình và sự che chở của nhiều chức sắc cao cấp Công giáo” – linh mục Nguyễn Quang Lãm.
 Cái chết bi thảm và sứ mệnh hoàn hảo
Chúng tôi hỏi ông Nguyễn Cao Kỳ: “Ai đã giết Phạm Ngọc Thảo?”. Ông Kỳ: “Sau lần tiếp xúc ở Biên Hòa, tôi không gặp Phạm Ngọc Thảo nữa và không quan tâm đến chuyện của ông ấy”. Hỏi: “Hồi đó mọi người đều nói tướng Nguyễn Ngọc Loan tự tay giết chết Phạm Ngọc Thảo. Mà tướng Loan từng là người thân cận của ông?”. Ông Kỳ: “Tôi không biết ông Loan có giết ông Thảo hay không, nhưng mọi quyết định đều do ông Thiệu”.
pham-ngocc-thao
“Mọi quyết định đều do ông Thiệu”, ông Kỳ nói đúng. Nhưng ông Kỳ nói ông không quan tâm đến ông Thảo thì chưa chắc đúng.
Linh mục Nguyễn Quang Lãm, chủ bút Báo Xây Dựng, là người có tình cảm đặc biệt đối với Phạm Ngọc Thảo. Ông không những che chở, giữ liên lạc và làm tất cả những gì có thể làm được để giúp Phạm Ngọc Thảo mọi lúc mọi nơi, mà còn đăng công khai trên báo chí những điều tốt đẹp nhất về Phạm Ngọc Thảo, dù ai có nói ông Thảo là cộng sản ông cũng mặc kệ. Sau khi ông Thảo bị giết hại, Báo Xây Dựng của cha Lãm đã đăng loạt bài điều tra 40 kỳ về cái chết của ông. Chưa hết, gần 10 năm sau, vào năm 1974, cha Lãm còn viết một loạt bài nhiều kỳ đăng trên Báo Hòa Bình, lại đề cập đến việc ai đã giết Phạm Ngọc Thảo, ai đã bán đứng Phạm Ngọc Thảo.
Theo cha Lãm thì: “Đại tá Phạm Ngọc Thảo là người can đảm, một kẻ dám làm một cái gì, một người có những tư tưởng lạ, những tư tưởng lớn về chuyện Đất Nước”. Ông nghĩ vậy và ông nghĩ rằng ông Nguyễn Cao Kỳ cũng có thể nghĩ như ông, vì ông biết ông Kỳ rất muốn gặp Phạm Ngọc Thảo sau cuộc đảo chính. Cha Lãm muốn đưa ông Thảo đến trại Phi Long (căn cứ không quân) gặp Nguyễn Cao Kỳ, nhưng vì mỗi lần gặp ông Kỳ cứ nhắc đi nhắc lại “Anh ta đâu?” một cách sốt sắng, nên vị linh mục đâm ra cảnh giác: “Nhỡ ra tướng Kỳ nổi hứng hay nổi đóa giữ Phạm Ngọc Thảo lại nộp cho cơ quan an ninh thì sao?”. Vì vậy, thay vì đưa ông Thảo đến, cha Lãm đến gặp ông Kỳ đề nghị đưa ông Kỳ đến gặp ông Thảo tại một địa điểm bí mật với điều kiện: đi một mình, không cho cận vệ đi kèm, không dắt súng lục, không nhấc điện thoại gọi về nhà dù chỉ bảo “Hôm nay không về ăn cơm nhà”. Hôm đó ông Kỳ “OK” nhưng bảo “đang bận hôm nay không đi được”. Cha Lãm thuật lại chuyện này với Phạm Ngọc Thảo, nhưng ông Thảo bảo cha không cần thận trọng như thế, rằng ông có thể đến trại Phi Long gặp ông Kỳ được, rằng “mời ông ta ra chỉ cho thấy mình yếu bóng vía và không tin cậy ông ta”. Hai hôm sau, cha Lãm tới nơi ông Thảo lánh nạn (tại một cao ốc trên đường Ngô Đức Kế) để đưa ông Thảo vào trại Phi Long thì ông Thảo đã rời khỏi chỗ này rồi, do bị lộ, an ninh đến lục xét. Một tuần sau, cha Lãm mới hết lo lắng khi ông Thảo nhắn cha lên Biên Hòa và cho biết mình đang ở chỗ xứ cha Cường. Vị linh mục kể lại chuyện này kèm theo những lời trìu mến: “Chỉ tội ở đó không có điện thoại để con người làm cách mạng đó móc nối liên lạc với các đồng chí và lúc buồn buồn có thể nói được dăm ba câu với một vài người đẹp”. Nhưng 3 tuần sau, ngày 17.7.1965, cha Lãm nhận được điện thoại của một ký giả làm cho một hãng thông tấn ngoại quốc báo tin ông Thảo đã bị giết rồi.
Tài liệu chính thức của ta hiện nay đều nói về cái chết của Phạm  Ngọc Thảo: Ông bị an ninh chính quyền Sài Gòn bắt đem đi thủ tiêu vào ngày 15.7 nhưng ông chỉ bị thương nặng, được các linh mục và nữ tu đem về một tu viện chăm sóc, sau đó nhà cầm quyền truy lùng tung tích và bắt ông đưa về cơ quan an ninh quân đội vào ngày 16.7. Tại đây, Nguyễn Ngọc Loan và thuộc hạ đã tra tấn và bóp hạ bộ ông cho đến chết ngay trong đêm hôm đó. Báo chí và dư luận ở Sài Gòn trước giải phóng cũng nói như vậy. Chính cha Lãm đã trực tiếp gặp Nguyễn Ngọc Loan để hỏi cho ra nhẽ. Tướng Loan chối, bảo rằng không có chuyện đó, rằng ông Thảo chết là do bị thương quá nặng, thậm chí ông ta còn nói mình không liên quan đến chuyện bắt bớ ông Thảo. Vị linh mục nói ông đã đem lời tướng Loan kể lại cho đàn em và bạn bè Phạm Ngọc Thảo, nhưng không ai tin, “người ta sẵn sàng tin là tướng Loan nói thật, nhưng đó là sự thật ghi trên các phúc trình, báo cáo, biên bản của bác sĩ”.
Cha Lãm còn cho hay, Phạm Ngọc Thảo thường thay đổi chỗ ở với những hành tung lạ lùng, có khi ông ở ngay gần bót cảnh sát, ở chỗ nào ông cũng cho cha Lãm biết. Cuối cùng, khi những nơi khác không an toàn, ông về xứ Đa Minh của cha Cường ở Thủ Đức, rồi đến trú tại tu viện Phước Sơn. Tại đây, cha Lãm cũng làm hết sức mình để ông được an toàn nhất. Ông được các linh mục hết lòng bảo vệ, tuy nhiên, theo cha Lãm thì chính lòng tốt và sự thiệt thà của các linh mục bảo vệ ông đã khiến ông bị lộ. Khi ông bị thủ tiêu không chết, được các linh mục đưa về giáo xứ Đa Minh cứu chữa, bọn chúng cũng lần theo các linh mục để truy tìm ông.
Cha Lãm cho biết thêm, khi bọn chúng cấp tốc đưa Phạm Ngọc Thảo về Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 trong tình trạng bị thương rất nặng, một chiếc trực thăng H-34 chở ông thẳng về Bộ Tổng tham mưu, tại đây người của Nguyễn Ngọc Loan đã chờ sẵn, lúc đó là 7 giờ tối 16.7. Trên quốc lộ 4, những người thân của Phạm Ngọc Thảo cũng rú ga xe chạy đến Mỹ Tho và Cần Thơ gặp 2 vị giám mục, đã có những cú điện thoại gọi về trong đêm cho trung tướng Thiệu, nhưng ngay trong đêm ông Thảo đã chết rồi. Vị linh mục còn viết tiếp: “Tôi biết chắc những người có dụng ý loại trừ Thảo không muốn chuyện bắt bớ kéo dài kéo theo nhiều chuyện lôi thôi. Bởi họ không thể không biết đại tá Phạm Ngọc Thảo rất được cảm tình và sự che chở của nhiều chức sắc cao cấp Công giáo. Nếu Phạm Ngọc Thảo bị giải về Sài Gòn, chờ ngày ra tòa lãnh án thì tất nhiên sẽ có nhiều tiếng nói can thiệp, nhiều áp lực ngay cả do phía tòa đại sứ Mỹ. Vì vậy biện pháp áp dụng là thủ tiêu ngay”.
Điều chắc chắn là Nguyễn Văn Thiệu không tin ông Thảo là cộng sản, ông ta biết các vị chức sắc Công giáo cùng nhiều sĩ quan thuộc quyền ông ta cũng không tin ông Thảo là cộng sản. Bởi vậy mà Phạm Ngọc Thảo phải chết, vì ông là một đối thủ đáng gờm của người cầm quyền. Một người được giới chức sắc Công giáo hậu thuẫn, được giới quân sự nể phục, một người tay không mà tổ chức một cuộc binh biến khiến cho Nguyễn Khánh đang nắm trong tay cả một quân đội phải chạy tóe khói, người ấy không đáng gờm sao được! Nếu Nguyễn Văn Thiệu, nếu các vị giám mục, linh mục tin Phạm Ngọc Thảo là cộng sản thì chưa chắc ông đã bị thủ tiêu. Những nhà tình báo lừng lẫy như Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Nguyễn Tài… cũng như nhiều cán bộ cách mạng cấp cao bị bắt, giới cầm quyền biết chắc các vị là cộng sản, các vị bị đày ra Côn Đảo, nhưng các vị có bị thủ tiêu đâu.
Phạm Ngọc Thảo chết khi mới 43 tuổi. Cuộc đời ông kết thúc bi thảm, nhưng sứ mệnh ông thực hiện là hoàn hảo. Sự hoàn hảo không phải trên vỏ bọc mà ở hành động vì nước vì dân không che giấu, ở cuộc sống chính trực và tấm lòng chân thành. Cho đến bây giờ, khi biết ông là người của cách mạng, những bạn bè và những người quen biết ông từng ở phía bên kia vẫn yêu mến, vẫn ngưỡng mộ ông.
HOÀNG HẢI VÂN

Tình báo Phạm Ngọc Thảo kỳ 6: Suýt làm thủ tướng Việt Nam

 “Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi”Lời ông Nguyễn  Cao Kỳ nói với Thanh Niên.

Suýt làm Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa

Năm 1962, sau khi thôi làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa, sang Mỹ học một khóa quân sự cao cấp, Phạm Ngọc Thảo được bổ nhiệm làm Thanh tra Ấp chiến lược, trực thuộc Phủ Tổng thống. Thời gian này mối quan hệ giữa ông với ông Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang càng thân thiết. Với sức thuyết phục mạnh mẽ của một nhà quân sự vừa có trình độ, vừa chân thành vốn có, ông được nhiều sĩ quan có tinh thần dân tộc ngưỡng mộ.

pham-ngoc-thaoo
Phạm Ngọc Thảo  chỉ huy đảo chính – Ảnh: LIFE
Trong những năm 1962 – 1963, giữa lúc phong trào Đồng khởi lan rộng ở nông thôn, chính trường miền Nam Việt Nam trở nên rối ren. Gia đình họ Ngô vừa cai trị độc tài, vừa muốn thoát khỏi sự can thiệp của người Mỹ, tình hình này khiến cho phong trào đấu tranh của quần chúng ở đô thị dâng cao. Người Mỹ thì muốn gạt bỏ gia đình họ Ngô để thay vào đó giới lãnh đạo thân Mỹ nhằm biến miền Nam thực sự là một tiền đồn chống cộng. Biết trước sau gì gia đình họ Ngô cũng bị người Mỹ lật đổ để dựng lên một chính quyền nguy hiểm hơn, Phạm Ngọc Thảo cùng với Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang lên một kế hoạch đảo chính với mục tiêu “cải sửa” chế độ nhằm vô hiệu hóa ý đồ của người Mỹ. Theo kế hoạch này, lực lượng đảo chính sẽ vẫn giữ Ngô Đình Diệm làm tổng thống, chỉ buộc Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch bị lộ, Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm lãnh sự ở Ai Cập. Ngô Đình Nhu không tin Phạm Ngọc Thảo tham gia kế hoạch này, thứ nhất là ông Nhu không tin ông Thảo phản bội, thứ hai là ông Thảo “không có quân”. Thực ra lúc đó ông Thảo đã được nhiều sĩ quan chỉ huy ở Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, một số đơn vị biệt động quân, bảo an hậu thuẫn. Cuộc đảo chính không thành chủ yếu do thành phần đảo chính không phải là những người mà người Mỹ có thể nắm được.
Và như chúng ta đã biết, ngày 1.11.1963, một nhóm tướng lĩnh do Mỹ bật đèn xanh, đã tiến hành đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Anh em ông Diệm, ông Nhu bị chết thảm. “Hội đồng quân nhân cách mạng” (HĐQNCM) do tướng Dương Văn Minh đứng đầu lên cầm quyền. Phạm Ngọc Thảo dù không chủ động tham gia cuộc đảo chính này, vẫn được HĐQNCM cử làm tùy viên báo chí, sau đó được cử sang Mỹ tu nghiệp. HĐQNCM cầm quyền được 2 tháng, đã bị tướng Nguyễn Khánh và tướng Trần Thiện Khiêm 2 lần “chỉnh lý”, thâu tóm mọi quyền lực.
Lên cầm quyền, Nguyễn Khánh rút Phạm Ngọc Thảo về nước, cử làm giám đốc báo chí, phát ngôn viên chính phủ, lúc này ông đã được thăng đại tá. Mâu thuẫn giữa các tướng lĩnh trong giới cầm quyền ngày càng gay gắt, Nguyễn Khánh tiếp tục loại Trần Thiện Khiêm, đưa ông tướng này đi làm đại sứ tại Mỹ. Phạm Ngọc Thảo cũng được đưa sang Mỹ làm tùy viên văn hóa, quân sự vào đầu tháng 10.1964. Ông đưa luôn vợ con sang (họ định cư ở Mỹ cho đến ngày nay). Tuy nhiên, sau đó do nghi ngờ Phạm Ngọc Thảo, nên cuối năm 1964, Nguyễn Khánh ra lệnh triệu hồi Phạm Ngọc Thảo về nước, với ý đồ sẽ bắt ông tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phạm Ngọc Thảo đã khôn khéo không về đúng giờ bay dự định nên thoát. Có mặt ở Sài Gòn,  ông bí mật móc nối tổ chức lực lượng, kéo tướng Lâm Văn Phát và hàng chục sĩ quan khác tiến hành cuộc đảo chính ngày 19.2.1965.
Điều kỳ lạ là lúc đó Phạm Ngọc Thảo, tuy là đại tá nhưng không cầm quân và đang bị Nguyễn Khánh truy bắt, lại có thể tổ chức và chỉ huy một lực lượng không dưới một sư đoàn làm binh biến (gồm các đơn vị thiết giáp với 45 xe tăng và thiết giáp, các đơn vị địa phương quân, lực lượng của Trường bộ binh Thủ Đức và chủ lực là trung đoàn 46 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh). Cuộc binh biến do tướng Lâm Văn Phát cầm đầu về danh nghĩa, còn thực tế do Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy, sau này người ta gọi ông là “Tư lệnh hành quân 19.2”.
Chỉ trong 1 ngày, lực lượng đảo chính đã chiếm Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô (trại Lê Văn Duyệt), Đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Đáng tiếc là do một số sơ sót trong hợp đồng tác chiến, Nguyễn Khánh đã được Tư lệnh Không quân lúc đó là Nguyễn Cao Kỳ cứu thoát.
Chúng tôi có dịp gặp ông Nguyễn Cao Kỳ năm 2008. Hỏi về sự kiện này, ông Nguyễn Cao Kỳ nói: “Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi”. Ngẫm nghĩ một hồi, ông Kỳ nhớ lại: “Cuộc đảo chính diễn ra bất ngờ đến mức tôi không kịp mặc áo, chỉ mặc may ô chui hàng rào thép gai ra lấy máy bay chạy về Biên Hòa. Sau đó ông Thảo lên Biên Hòa gặp tôi, cùng đi có một đại tá Mỹ. Ổng thuyết phục tôi ủng hộ quân đảo chính. Nói thật là tôi không ưa gì Nguyễn Khánh, nhưng quân đội đánh nhau tôi không đồng ý. Tôi bảo các anh phải cho quân về ngay doanh trại, đến 5 giờ chiều mà không rút quân tôi sẽ cho máy bay ném bom”. Đó là lý do khiến cuộc đảo chính thất bại.
Tuy nhiên, Nguyễn Khánh cũng bị loại. Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và một số tướng lãnh được sự hậu thuẫn của người Mỹ đã lựa gió phất cờ, họp Hội đồng tướng lãnh buộc Nguyễn Khánh từ chức và trục xuất ông này ra nước ngoài với danh nghĩa là “đại sứ lưu động”, cử tướng Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống đảo chính, ra lệnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát cùng 13 sĩ quan “đầu sỏ” tham gia đảo chính trong vòng 24 giờ phải ra trình diện. Phạm Ngọc Thảo, tướng Lâm Văn Phát, trung tá Lê Hoàng Thao (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46) bỏ trốn.
Tháng 6.1965, Hội đồng tướng lĩnh giải tán chính phủ dân sự của Phan Huy Quát, đưa tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia (tương đương quốc trưởng), tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương (tương đương thủ tướng). Chính quyền Thiệu – Kỳ lập tòa án quân sự để xử những người tham gia đảo chính. Phạm Ngọc Thảo bị kết án tử hình vắng mặt, chúng treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được ông.
Lúc này tuy ông phải lẩn tránh sự truy bắt của chính quyền, nhưng vẫn còn nắm được 1 tiểu đoàn. Ông liên lạc với ông Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt gặp ông và gợi ý ông ra chiến khu cho an toàn, có thể dẫn theo tiểu đoàn này với danh nghĩa binh biến ly khai. Tuy nhiên, ông cho biết ông vẫn còn có khả năng tổ chức đảo chính để ngăn chặn chính quyền quân phiệt rước quân viễn chinh Mỹ vào gây tội ác. Ông Võ Văn Kiệt đồng ý.
Phạm Ngọc Thảo tiếp tục hoạt động bí mật ở Sài Gòn, cho xuất bản tờ “Việt Tiến” để tập hợp lực lượng. Ông được các giám mục, linh mục, giáo dân Công giáo cùng nhiều bạn bè trong và ngoài quân đội giúp đỡ, bảo vệ.
Còn Nguyễn Văn Thiệu, sau khi lên nắm chính quyền, thấy rõ Phạm Ngọc Thảo là mối đe dọa nguy hiểm đến vị trí quyền lực của mình, nên quyết tìm mọi cách tiêu diệt ông để trừ hậu họa…
(còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN

[Cập nhật] Tình báo Việt Nam Phạm Ngọc Thảo kỳ 5 – Bị cách mạng ám sát

Bị cách mạng ám sát
Hành động của Phạm Ngọc Thảo tại Bến Tre như thả tù chính trị và khôn khéo lái các cuộc hành quân tảo thanh vào chỗ không người đã góp phần quan trọng vào việc bảo tồn lực lượng cách mạng, tạo điều kiện mở rộng cuộc Đồng khởi ở miền Nam. Nhưng đó là nhận định sau này, khi đã biết Phạm Ngọc Thảo là người của ta. Còn lúc đó, nhận định của Tỉnh ủy Bến Tre thì hoàn toàn ngược lại.
 pham-ngoc-thao-3
Chúng tôi đã gặp một trong hai người trực tiếp ném lựu đạn giết Phạm Ngọc Thảo. Đó là ông Đặng Quốc Tuấn (Sáu Tuấn), sau này là Tỉnh ủy viên, Bí thư Tỉnh đoàn, rồi làm Giám đốc Đài phát thanh – truyền hình tỉnh Bến Tre cho đến khi về hưu. Người kia là ông Ngô Văn Thiều đã qua đời.
Hôm đó là ngày Quốc khánh VNCH 26.10.1961, một cuộc mít tinh lớn biểu dương lực lượng được tổ chức tại Quảng trường An Hội, ngay đầu cầu Bến Tre 1 chợ Vườn Hoa bây giờ. Người giao nhiệm vụ là ông Hai Trung, Tỉnh ủy viên phụ trách Thị ủy. Nhiệm vụ ông Hai Trung giao trực tiếp cho ông Thiều, đã thoát ly, cùng 5 trái lựu đạn, 3 trái nội hóa, 2 trái MK2 của Mỹ. Ông Thiều giao nhiệm vụ lại cho ông Sáu Tuấn, lúc đó 17 tuổi, đang học đệ tam (lớp 10). Mỗi ông cầm 1 trái lựu đạn MK2, 3 trái kia để ở nhà ông Thiều. Ông Thiều đứng tại vị trí ngay trụ sở Báo Đồng Khởi bây giờ, còn ông Sáu Tuấn đứng cách 10 m. Theo hợp đồng, ông Thiều ném trước, ông Sáu Tuấn ném tiếp theo, ném xong chạy về tập kết tại nhà ông Thiều ở thị xã.
Ông Sáu Tuấn kể: “Sau khi ông Thảo đọc diễn văn, lúc đó khoảng 8 giờ 30, tới phần diễu hành. Tất cả quan khách đứng lên nhìn ra phía diễu hành. Ông Thiều liệng 1 trái, lựu đạn rơi cách ông Thảo 1,5 m, không thấy nổ, tôi liệng tiếp 1 trái cách ông Thảo 5 m rồi bỏ chạy, cũng không nổ luôn. Lúc đó bọn tôi bỏ chạy không để ý, sau giải phóng chị Nhiệm vợ ông Thảo về Bến Tre gặp chúng tôi có nói lại mới biết lúc đó ông Thảo chụp trái lựu đạn đang xì khói, lúng túng không biết xử lý làm sao. Nếu liệng ra bên ngoài thì chết dân, liệng bên phải bên trái thì chết dàn thiếu nhi nhà thờ. Đang không biết làm sao thì thấy khói dần dần mỏng ra, ổng biết lựu đạn lép, nên nắm chặt luôn. Tôi chưa biết ông Thiều bị bắt tại chỗ, nên chạy về nhà ông Thiều định lấy tiếp 3 trái còn lại. Rủi cho tôi, tại nhà ông Thiều đã có mật báo dẫn người lên ém, tôi đến bọn chúng giữ lại, chưa bắt ngay. Chúng vô nhà xét, lấy 3 trái lựu đạn và chiếc cặp da đi học tôi để ở nhà ông Thiều, vì cái cặp da có dấu cây súng trước đây tôi để trong cặp, nên tôi bị bắt, bị đánh tại chỗ. Tôi và ông Thiều bị giam riêng. Do không lường trước là bị bắt nên chưa thống nhất cách khai, vì vậy mỗi người nói một phách. 20 ngày sau, khi giam chung mới thống nhất lại”.
Sau khi bị bắt 1 tuần, ông Thảo có gặp hai ông. Lần đó, một cố vấn Mỹ thẩm vấn, ông Thảo làm phiên dịch. Hỏi: “Tại sao là học sinh mà đi ám sát tỉnh trưởng ngay tại ngày quốc khánh? Có phải cộng sản giao việc không? Ai là người giao việc?”. Trả lời: “Do chính quyền độc ác, đàn áp ức hiếp giết hại dân. Chúng tôi học tập gương của Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học đứng lên đấu tranh, không liên quan gì tới cộng sản, không có ai giao việc cả”. Ông Thảo dịch như thế nào ông Sáu Tuấn không biết. Ông Thảo chỉ nói với hai ông: “Các em còn nhỏ, phải lo chuyện học hành, chính trị là chuyện của người lớn, sau này lớn lên muốn làm gì thì làm”. Lần thứ hai, ông Thảo đến hỏi thăm trước khi đưa về Chí Hòa.
Tháng 3 năm sau, Tòa án quân sự đặc biệt mở phiên tòa xử hai ông theo luật 10/59, một đại tá tên Khoa làm công tố. Do có sự vận động của phong trào yêu nước ở Sài Gòn, nên luật sư Trịnh Đình Thảo đến bào chữa cho hai ông. Tuy nhiên, hai ông tự cãi là chính. Hai ông tố cáo sự tàn bạo của chế độ và dõng dạc nói: “Tụi tôi không phải là Việt cộng, nhưng nếu như được Việt cộng tổ chức làm như vậy tụi tôi cũng tham gia”. Hai ông còn lên án phiên tòa vi phạm luật quốc tế, xử vị thành niên chưa tới 18 tuổi, đại tá Khoa rút gươm lệnh ra nói lớn: “18 tuổi là luật cộng sản, Việt Nam cộng hòa xử 13 tuổi”. Do những gì cần cãi hai ông đã tự cãi rồi, nên luật sư Trịnh Đình Thảo chỉ đề nghị khoan hồng.
Hai ông bị kết án mỗi người 20 năm tù, đưa về Chí Hòa, sau đó đưa ra Côn Đảo, chung một chuyến với những người tù nổi tiếng Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư. Ngoài Côn Đảo, hai ông đấu tranh, chống chào cờ, được kết nạp Đảng trong tù. Năm 1965, sau khi ông Thảo bị sát hại, bỗng nhiên hai ông được đưa về Chí Hòa, lúc ấy anh em trong tù nhận định hai khả năng, hoặc là được thả hoặc tăng án lên tử hình. Lúc đó 2 ông đã chống chào cờ rồi, về Chí Hòa chúng chỉ yêu cầu hai ông chào cờ, nhưng hai ông dứt khoát không chịu, mà chống chào cờ là tự nhận là cộng sản, nên dù ông Thảo có là cộng sản đi chăng nữa thì tội của hai ông cũng không nhẹ đi được, do đó sau 20 ngày chúng đưa trở lại Côn Đảo. Ông Thiều được thả năm 1973, thoát ly lên chiến khu, sau giải phóng làm cán bộ Ban Tổ chức Thành ủy TP.HCM, qua đời năm 1984 vì bệnh. Còn ông Sáu Tuấn đến ngày giải phóng mới về.
Chúng tôi hỏi ông Sáu Tuấn: “Có phải 2 trái lựu đạn không nổ là do tổ chức bố trí để ám sát giả?”. Trả lời: “Không có chuyện đó. Ám sát ông Thảo là làm thiệt. Lựu đạn thối, có khả năng là có nội gián của địch trong công binh xưởng lúc kiểm tra lựu đạn. Sau này ta đã bắt được một ông. Làm cho lựu đạn không nổ rất đơn giản, chỉ cần nhúng sáp đèn cầy vào tim cháy chậm, khi giật lửa cháy lên khiến cho sáp chảy ra bít ngòi nổ”. Hỏi: “Tại sao Tỉnh ủy phải quyết giết ông Thảo?”. Trả lời: “Mãi sau này mới biết ông Thảo có công lớn, chứ theo nhận định của Tỉnh ủy lúc đó thì khi phong trào Đồng khởi đang lên mà ông Thảo lại thả tù, người mới bắt thì đối xử tử tế, gom vào sân vận động giải thích rồi cho về hết, làm nhụt ý chí chiến đấu của quần chúng. Đó là tên tỉnh trưởng mỵ dân rất nguy hiểm, cần phải trừ khử”.
Vì giết ông Thảo mà ông Sáu Tuấn ở tù 14 năm, 17 tuổi vào tù, ra tù 31 tuổi. Bà Phạm Thị Nhiệm thỉnh thoảng về nước đến Bến Tre thăm lại những kỷ niệm xưa, đều thăm ông Sáu Tuấn, bà nói: “Ngày xưa anh Thảo vẫn nhắc đến tụi mày”. Các con ông Thảo cũng có về. Ông Tuấn nói con ông Thảo một đứa sinh ở Bến Tre, một đứa khác vừa rồi về cưới vợ, nghe đâu ở An Giang…
(còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN

[Mới nhất] Tình báo Phạm Ngọc Thảo kỳ 4: Oanh liệt thầm lặng

Phạm Ngọc Thảo là ai ? Đại tá Phạm Ngọc Thảo là người như thế nào ? Hãy cùng tiếp tục chúng tôi tìm hiểu kỳ 4  – oanh liệt trong thầm lặng.

Luận về quân tử – tiểu nhân
Những bài báo “gây sốc” của Phạm Ngọc Thảo đã tạo một tiếng vang lớn. Chúng được giới quân sự, chính trị ở Sài Gòn cũng như các chuyên gia CIA và tình báo nước ngoài rất quan tâm. Họ “soi” rất kỹ để biết Phạm Ngọc Thảo là ai. Ngay cả cấp trên của ông Thảo cũng hồi hộp lo lắng về nước cờ cao nhưng liều lĩnh của ông.
Nước cờ cao này sẽ khiến cho những kẻ chống cộng tầm thường nghĩ ông là cộng sản nằm vùng, dù bọn họ là số đông, nhưng ông không quan tâm, họ không phải là đối tượng để ông gửi thông điệp. Thông điệp mà Phạm Ngọc Thảo muốn gửi tới là Ngô Đình Nhu và bộ tham mưu cao cờ của ông Nhu, đặc biệt là Trần Kim Tuyến.
Quả nhiên những bài báo đó không lọt khỏi “mắt xanh” của Ngô Đình Nhu và Trần Kim Tuyến. Đây chính là thứ mà họ Ngô cần. Muốn xây dựng một quân đội thực sự là “quân đội quốc gia” thì không thể không dựa trên lý luận quân sự được trình bày trong những bài báo của Phạm Ngọc Thảo. Thông điệp mà Phạm Ngọc Thảo gửi tới phù hợp với đường lối chiến lược của anh em họ Ngô: Muốn chiến thắng cộng sản, muốn xây dựng một quân đội, một chế độ độc lập thì phải làm theo cách của Việt Minh. Lịch sử “Đệ nhất cộng hòa” sau này cho thấy, họ Ngô tuy nhận viện trợ của Mỹ nhưng không nghe lời Mỹ, không để người Mỹ can thiệp quá sâu vào chế độ, vì vậy mà bị Mỹ đạo diễn lật đổ.
pham-ngoc-thao-2
Và Phạm Ngọc Thảo bắt đầu được trọng dụng. Ông gia nhập đảng Cần Lao và được đưa vào Ban Tuyên huấn đảng này, được thăng quân hàm thiếu tá, rút về làm việc tại Sở Nghiên cứu chính trị – xã hội (cơ quan mật vụ Phủ Tổng thống) do Trần Kim Tuyến làm giám đốc, văn phòng ông nằm ở cánh trái Phủ Tổng thống, bên cạnh Văn phòng cố vấn Ngô Đình Nhu.
Việc Phạm Ngọc Thảo được trọng dụng khiến cho không ít nhân vật cao cấp trong chính quyền tức tối. Tướng Mai Hữu Xuân, Giám đốc An ninh quân đội, không những nghi ngờ mà còn quả quyết cho rằng Phạm Ngọc Thảo chính là cộng sản, rằng “cộng sản đang lũng đoạn Phủ Tổng thống”. Sau này ông ta nói với các thuộc cấp: “Mỗi lần vào Dinh Độc lập, tôi thấy cánh trái của dinh ửng lên đỏ loét”. Những báo cáo về Phạm Ngọc Thảo của các cơ quan an ninh, cảnh sát đều bị bỏ ngoài tai. Ông Diệm, ông Nhu có cái lý của mình, hạng như Mai Hữu Xuân thì biết gì!
Tuy nhiên, trong khi Ngô Đình Diệm hoàn toàn tin tưởng Phạm Ngọc Thảo, thì Ngô Đình Nhu vốn là một con cáo già về chính trị, nên dù trọng dụng ông song chưa phải là hoàn toàn tin tưởng. Một lần, ông Nhu rủ ông Thảo đi chơi bằng ca nô trên sông Cửu Long, ông Nhu đột ngột hỏi: “Nhiều cán bộ Việt Minh sau Hiệp định Genève về làm việc cho quốc gia, họ chỉ cho quốc gia bắt được nhiều cán bộ cộng sản nằm vùng quan trọng. Anh Thảo về làm việc cho quốc gia được một thời gian rồi, sao chưa thấy anh Thảo chỉ bắt được ai?”. Câu hỏi thật hắc búa, nhưng Phạm Ngọc Thảo không hề lúng túng. Ông bình thản nói: “Trước đây đi kháng chiến tôi hợp tác với người cộng sản dưới ngọn cờ Việt Minh đánh Tây để giải phóng Tổ quốc. Nay đất nước chia đôi, miền Bắc giao cho cộng sản, miền Nam giao cho quốc gia. Tổng thống và anh Nhu là người quốc gia yêu nước, muốn kiến thiết lại xứ sở sau bao nhiêu năm bị chiến tranh tàn phá, nên tôi đem hết sức lực làm việc cho tổng thống. Tôi nghĩ tổng thống và anh Nhu là những người quân tử, dùng người theo cách của người quân tử. Nếu tôi chỉ cho chính quyền bắt những đồng đội cũ của tôi, thì tôi là kẻ tiểu nhân đáng khinh bỉ. Liệu những người quân tử như tổng thống và anh có thể trọng dụng được kẻ tiểu nhân đáng khinh bỉ như vậy không?”. Ngô Đình Nhu đuối lý nhưng rất thích câu trả lời đó, bảo chỉ hỏi đùa vậy thôi và xin lỗi ông Thảo.
Tại các cuộc họp của đảng Cần Lao, trong khi những người khác chỉ nói theo, không ai dám làm trái ý Ngô Đình Nhu thì Phạm Ngọc Thảo lại rất thẳng thắn. Sự thẳng thắn đó làm Ngô Đình Nhu rất hài lòng. Một lần ra hành lang cuộc họp, Ngô Đình Nhu nói với những người thân cận về Phạm Ngọc Thảo: “Thằng này đúng là thằng dân tộc chủ nghĩa đậm chất Nam bộ”, lời nhận xét đó được một cơ sở của ta nghe được và nói lại với ông Mười Hương.
Phạm Ngọc Thảo còn phản đối những hành vi vô nhân đạo trong chính sách tố cộng của Ngô Đình Diệm. Họ Ngô đề cao chính sách thân dân mà hành xử thì lê máy chém sát hại người yêu nước. Ông nói với Đức cha Thục rằng việc chống cộng kiểu này là thua cộng sản, rằng chống cộng càng tàn bạo bao nhiêu càng khiến cho dân chúng thấy Việt Minh nhân ái hơn bấy nhiêu. Ngô Đình Thục tán đồng ý kiến này và thuật lại với Ngô Đình Diệm. Ngô Đình Diệm thấy có lý. Đó là một trong những lý do Phạm Ngọc Thảo được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) vào đầu năm 1961, nơi đang diễn ra cuộc Đồng khởi lịch sử. Lúc này ông được thăng hàm trung tá. Nhiều người cho rằng vì họ Ngô còn nghi kỵ Phạm Ngọc Thảo nên mới đưa ông đến Kiến Hòa là để thử thách lòng trung thành, nhưng theo chúng tôi thì không thể như vậy, không người cầm quyền nào đem sự thành bại của chế độ ra mà thử thách thuộc hạ. Ngô Đình Diệm muốn Phạm Ngọc Thảo áp dụng chính sách “thân dân” của ông ngay trong vùng nước sôi lửa bỏng.
Về làm tỉnh trưởng một thời gian, ông Thảo thả hơn 2.000 tù chính trị, trong đó có ông Võ Viết Thanh (sau này là Chủ tịch UBND TP.HCM), nói là thực hiện chính sách thân dân của Ngô Tổng thống, bất chấp những lời tố cáo ông liên tục gửi về Sài Gòn. Theo tài liệu ghi chép lại của ông Sáu Trí, Trưởng ty Công an Kiến Hòa lúc đó đã báo cáo với thiếu tướng Nguyễn Văn Là, Tổng giám đốc Công an cảnh sát như sau: “Ông tỉnh trưởng này khả nghi quá. Những cuộc hành quân bố ráp của ngành an ninh trong vùng cộng sản mới chiếm đã bắt nhiều người đem về để rà soát tìm những tên đầu sỏ nhằm tiêu diệt lực lượng cộng sản từ cơ sở, nhưng chúng tôi chưa kịp thẩm vấn ai, chưa kịp làm gì thì ổng cho thả gần như 99%. Không cơ quan an ninh nào muốn làm việc nữa. Nếu hành quân đem về buổi chiều, ổng bảo đem số người bị bắt vào dinh ổng nghỉ tạm, mấy bà già và phụ nữ lớn tuổi ổng đem lên lầu ở, số còn lại ở bên dưới. Ban đêm nấu cháo gà đãi, sáng ra ông cho tập hợp lại, đến nói chuyện chính trị, tuyên truyền chính sách thân dân của Ngô Tổng thống, xong rồi cho thả về hết, có người còn được cấp tiền xe…”. Thiếu tướng Là cắt ngang, ngao ngán: “Tổng thống khen Phạm Ngọc Thảo hết lời, bảo tỉnh trưởng các tỉnh toàn quốc đến Kiến Hòa học cách làm của trung tá Thảo”.
(còn tiếp)
Hoàng Hải Vân

Đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo – oanh liệt trong thầm lặng (kỳ 3)

Trong bài viết này hãy cùng chúng tôi đọc tiếp bài viết Điệp viên Phạm Ngọc Thảo kỳ 3: Oanh liệt trong thầm lặng

Lật ngửa bài để tàng hình

“Phục vụ cho mục tiêu thống nhất đất nước” là làm nhiệm vụ cụ thể gì, không ai rõ chi tiết. Ông Mai Chí Thọ xác nhận việc ông Lê Duẩn giới thiệu Phạm Ngọc Thảo cho ông để bố trí ở lại miền Nam hoạt động, nhưng ông bảo ông chỉ nhận được chỉ thị về nhiệm vụ của ông đối với Phạm Ngọc Thảo thôi, còn ông Lê Duẩn chỉ thị cho Phạm Ngọc Thảo làm những việc gì thì ông không được thông báo.
Còn ông Võ Văn Kiệt, ban đầu không liên quan đến Phạm Ngọc Thảo, ông chỉ biết ông Lê Duẩn đã trọng dụng ông Thảo như thế nào mà thôi. Nhưng sau Hiệp định Genève, có một thời gian ông Lê Duẩn vào sống ngay trong thành phố Sài Gòn, ông Kiệt có nhiệm vụ tổ chức nơi ăn ở và bảo vệ an toàn, ông dần dần hiểu được những việc mà ông Lê Duẩn giao cho Phạm Ngọc Thảo. Khi làm Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định, ông Võ Văn Kiệt mới “liên quan” đến Phạm Ngọc Thảo. Ban đầu ông định cử ông Mười Nho, Trưởng ban Đặc tình Đặc khu ủy, liên lạc với Phạm Ngọc Thảo, nhưng xét thấy ông Mười Nho đã từng bị lộ tung tích, nên kế hoạch bị hủy bỏ. Ông Kiệt gặp ông Thảo nhiều lần, từ sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm đến sau cuộc đảo chính 19.2.1965.
Theo ông Võ Văn Kiệt, nhiệm vụ mà ông Lê Duẩn giao cho ông Thảo là tìm cách thâm nhập càng sâu càng tốt vào bộ máy chính quyền Sài Gòn và tùy cơ ứng biến; ông Thảo không phải là một điệp viên, không có trách nhiệm báo cáo bất cứ chuyện gì với bất kỳ ai, khi có việc cần thiết có thể trao đổi với người lãnh đạo nào mà ông Thảo thấy đủ tin tưởng, nếu không thấy cần thiết thì không trao đổi. Ông Thảo hoạt động độc lập, tự do hành động, không bị bất cứ một chế định nào. Việc ông Kiệt gặp ông Thảo là do chính ông Thảo chủ động cho người thân liên lạc để bàn bạc giải pháp, ông Kiệt không có “chỉ thị” ông Thảo phải gặp ông.
Sau khi thống nhất đường hướng, phương thức hoạt động với ông Mười Hương, Phạm Ngọc Thảo vào Sài Gòn, bắt đầu tàng hình bằng một “ván bài lật ngửa”.
Theo ông Mười Hương, nếu không thừa nhận anh em Ngô Đình Diệm là những người yêu nước theo cách của họ, nếu không thừa nhận họ là những người có tinh thần dân tộc, muốn xây dựng một chế độ quốc gia không cộng sản, thì Phạm Ngọc Thảo khó mà dám “ngửa bài”. Ông Mười Hương cho rằng, thực tế Ngô Đình Diệm luôn mơ ước có những trí thức yêu nước có tầm cỡ bên cạnh mình, như cụ Hồ có những người như ông Hoàng Minh Giám bên cạnh. Cần biết Ngô Đình Diệm nổi tiếng chống cộng, nhưng Ngô Đình Diệm trong thâm tâm bao giờ cũng nể phục cụ Hồ và chưa bao giờ dám xúc phạm đến cụ Hồ.
phamngocthao-cao-dai
Phạm Ngọc Thảo tất nhiên không thể giấu cái lý lịch kháng chiến ai cũng biết của ông, nhưng ông không “hồi chánh” để “trở về với chính nghĩa quốc gia” như một số người, vì làm như vậy là biến thành một “thây ma”, là tự vô hiệu hóa vai trò của mình. Ngược lại, ông không những chủ động công khai cái lý lịch kháng chiến đó mà còn công khai tự hào về quãng đường mình đã theo Việt Minh chống Pháp. Để tiếp cận với gia đình họ Ngô, nguồn gốc trí thức Công giáo đã đành là một lợi thế, nhưng chưa đủ. Ông đã khôn ngoan biến cái lý lịch kháng chiến thành một lợi thế thứ hai, lợi hại hơn.
Khi về Sài Gòn, sau khi thu xếp nơi ăn chốn ở cho gia đình, ông không vội tiếp cận với gia đình họ Ngô mà ung dung đi dạy học. Vợ ông cũng vậy. Nhưng Sài Gòn lúc đó rất rối ren. Chính quyền một mặt phải đối phó với lực lượng của các giáo phái và các lực lượng thân Pháp, một mặt ráo riết lùng bắt những cán bộ Việt Minh không đi tập kết nhưng không “hồi chánh” để trừ hậu họa. Phạm Ngọc Thảo không “hồi chánh” nên tất nhiên không có giấy tờ “hồi chánh”, ông bị an ninh quân đội nhiều lần truy bắt, phải rất khôn ngoan ông mới trốn thoát.
Không thể ung dung ở Sài Gòn được nữa, ông về Vĩnh Long theo dự định ban đầu. Theo kế hoạch, việc đầu tiên ông làm là đến thăm Giám mục Ngô Đình Thục, anh ruột Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Đức cha Thục rất thân thiết với gia đình Phạm Ngọc Thảo, từng là người làm lễ rửa tội cho ông và coi ông như con nuôi. Trong kháng chiến chống Pháp, Phạm Ngọc Thảo từng mời Đức cha vào chiến khu để thông qua vị giám mục này mà tranh thủ đồng bào Công giáo ủng hộ kháng chiến. Lần này Phạm Ngọc Thảo đến thăm với sự lễ phép của một tín đồ ngoan đạo khiến vị giám mục vô cùng cảm động. Ngô Đình Thục đã bảo lãnh cho Phạm Ngọc Thảo vào dạy tại một trường trung học. Sau đó cũng từ sự giới thiệu của Đức cha Thục, Phạm Ngọc Thảo quay lại Sài Gòn làm việc tại Viện Hối đoái do ông Huỳnh Văn Lang, một học trò cũ của Đức cha Thục, làm Giám đốc. Trở lại Sài Gòn lần này ông hoàn toàn không bị an ninh quân đội làm khó dễ, vì ai mà dám động đến người của Đức cha!
Sau khi Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, lên làm Tổng thống, Giám mục Ngô Đình Thục liền tiến cử ông Thảo với Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, bảo đây là một nhân tài cần được trọng dụng. Gia đình họ Ngô anh nói em nghe, rất có khuôn phép, nên đương nhiên Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu chấp nhận sự tiến cử này. Tuy nhiên, do chưa thấy ông Thảo có tài năng gì đặc biệt, nên họ cũng chỉ bố trí cho ông những chức vụ khiêm tốn: đại úy đồng hóa, Tỉnh đoàn trưởng Bảo an…
Mối quan hệ với Huỳnh Văn Lang tạo thêm cho Phạm Ngọc Thảo một lợi thế: viết báo để thể hiện mình. Năm 1957, ông Huỳnh Văn Lang khi ấy là Giám đốc Viện Hối đoái và là Bí thư liên kỳ Nam Bắc Việt Nam của Đảng Cần Lao, đã cho xuất bản Tạp chí Bách Khoa. Phạm Ngọc Thảo được mời làm một thành viên sáng lập và tham gia Ban Biên tập tạp chí. Tờ Bách Khoa qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn tồn tại cho đến năm 1975. Phạm Ngọc Thảo có mặt từ số báo đầu tiên và chỉ tính riêng trong năm 1957-1958, ông đã cho đăng liên tục và dồn dập hàng loạt bài trên tạp chí này, tập trung đề tài về quân sự: “Thế nào là một quân đội mạnh?” (BK số 1-1957); “Đánh giặc mà không giết người” (BK số 2); “Góp ý kiến về thiên Mưu công trong binh pháp Tôn Tử” (BK số 3); “Một số ý kiến về lãnh đạo tinh thần một đơn vị quân đội” (BK số 4); “Vấn đề kinh tế tự túc trong quân đội” (BK số 5-6)…; “Lực lượng quân sự cơ động và lực lượng địa phương” (BK số 13); “Quân đội và nhân dân” (BK số 14); “Quân đội bình định đem lại bình an hay oán hận” (BK số 16); “Quan niệm về quân sự hiện đại” (BK số 17)… Những bài báo đó thể hiện tác giả của chúng có kiến thức uyên bác của một nhà chiến lược quân sự và thực tiễn sinh động của một nhà cầm quân, nhưng lại gây sốc: công khai ca ngợi chiến công chống ngoại xâm và hành động vì dân vì nước của quân đội nhân dân VN trong kháng chiến chống Pháp, lên án những hành vi phi nghĩa của quân đội phản nhân dân.  
(còn tiếp)
HOÀNG HẢI VÂN