Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 6: Tuổi trẻ vật lộn với cam go

Ở phần trước chúng ta đã tìm hiểu kỳ 6: Làm báo không phải là đội lốt. Vậy ở phần này hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về con người ông, tuổi thanh xuân của ông.

Tuổi thanh xuân của ông vật lộn với những cam go, với sống còn, với lòng can đảm hy sinh, sự lựa chọn con đường. Gay go khủng khiếp, cần sự quật cường…

Những năm 60, khi ông Phạm Xuân Ẩn bắt đầu trở thành phóng viên của Việt Nam Press Reuters; 1964-1965 là phóng viên của the New York Herald Tribune, rồi tuần báo Time từ 1965-1976; xã hội miền Nam đầy những biến cố. Hàng chục vạn lính Mỹ và chư hầu đổ vào. Nạn đĩ điếm “bùng phát” đến nỗi thượng nghị sĩ Mỹ J. William Fulbright, trưởng ban đối ngoại Thượng viện Quốc hội Hoa Kỳ đi Nam Việt Nam năm 1966 về nước đã nói rằng: Mỹ đã biến Sài Gòn thành một nhà chứa khổng lồ.

Trên tờ Le Monde của Pháp có bài viết về một Sài Gòn ngập ngụa trong ba làn sóng: bán dâm, tham ô và nạn chợ đen. Người ta nói rằng chính phủ thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ thành lập một công ty kinh doanh nghề mại dâm. Còn tổng trưởng Bộ Xã hội thì khoe: Nghề gái điếm phát triển tới mức trở thành một trong những nghề có tổ chức tốt nhất.

Sài Gòn, nơi lương tâm và lòng yêu nước không bao giờ lắng, đã có cả một phong trào đấu tranh chống văn hóa đồi trụy và nô dịch của Mỹ, bảo vệ thuần phong mỹ tục Việt Nam.

pham-xuan-an-ky-6

Trong tình hình ấy, riêng chỉ là một nhà báo, ông Ẩn phải “lặn sâu” vào mọi giới trong xã hội. Ông không chỉ quen với đám xì ke ma túy tới độ qua xem họ chích trên đường Lê Lai, chơi với cả ông trùm. Ông tận mắt quan sát họ trong tình trạng ngà ngà hoặc thiếu thuốc, vật vã. Lâu lâu ông cũng viết những bài điều tra xã hội, mặc dù công việc chính của ông là một chuyên gia về phân tích chính trị, quân sự và chuyên viết chiến tranh.

“Tôi có nhiều tên lắm. Họ gọi tôi là chuyên viên đảo chính vì luôn viết về quân sự, về biến cố chính trị và các cuộc đảo chính. Là “tiến sĩ Cách mạng” cũng vì chuyên viết về các đổi thay thời cuộc”. Ông cũng có cái tên giảng viên sinh lý cho các cô “tứ thời” thường đến ngồi bàn với ông Ẩn tại “đại học Continental” (nhà hàng) chờ khách. Tên là “bác sĩ chó” vì Ẩn biết chữa bệnh cho chó của các bà bạn đầm. “Tôi nhiều tít lắm” – Ông Ẩn còn kể ra thêm một cái tên lạ người ta đặt cho là “giáo sư Sexology”: Lúc chiến sự tạm yên, để đổi đề tài, ông hay viết về các cô gái điếm, vũ nữ. Thời đó, nhân viên bảo vệ thuần phong mỹ tục hay bắt các cô vũ nữ lố lăng và họ thường biết ơn vô cùng “ông nhà báo” hào hiệp, có uy đã quen cò mà xin tha cho các cô. Không chỉ dân xì ke ma túy có thể nói dóc với ông ngay bên bàn đèn, khi ông ngồi coi người ta tiêm thuốc, Ẩn còn được các cô vũ nữ giúp kể nhiều chuyện về cuộc sống đưa đón khách để làm tài liệu viết bài. Ông có thể kể cho bạn đọc cuộc sống các cô ra sao khi lấy Mỹ, nếu rủi có con không nuôi được thì cho ở đâu. Cũng có khi ông đi cùng ký giả Mỹ làm các cuộc phỏng vấn tận Quy Nhơn.

“Những ký giả kiểu đó, an ninh bám theo ngay”, ông Ẩn nhớ lại chuyến đi cùng một nữ ký giả Mỹ vào đúng thời gian quân Mỹ bị tấn công lẻ ở bất cứ chỗ nào. Phong trào diệt Mỹ của quân dân ta đang lên cao. Những ổ gái điếm cũng có lúc gặp khó khăn, ế hàng vì lính Mỹ được lệnh cấm vào những chỗ đó nguy hiểm. Việt Cộng thường tận dụng diệt Mỹ trong các sào huyệt ăn chơi, lơ là mất cảnh giác. Trong chuyến công tác đó, ký giả Ẩn ở tại nhà tỉnh trưởng còn nữ ký giả Mỹ ở nhà một tướng Mỹ. Khi thâm nhập thực tế, họ đi dọc theo các Snack-bar, tiệm nước dọc bờ biển, hỏi chuyện các cô nàng đang ế khách. Ngồi trong tiệm, lâu lâu thấy bóng lính Mỹ, một cô mời gọi: “Come on, boy, no vi-xi, no vi-đi (V.C – Việt Cộng; V.D – Venereal Diseases). V.D là tên của bệnh giang mai khó chữa. Lúc đó thuờng được gọi là bệnh Okinawa do lính Mỹ bên đó mắc phải và đã nhờn với kháng sinh thường dùng. Kháng sinh chữa không ăn thua. Vì sao ký giả đi kiểu đó bị an ninh “bám?”

“An ninh rất sợ ký giả phản ánh thực trạng tồi bại của xã hội. Họ đi theo giải thích cho ký giả hiểu là đừng có viết những mặt trái đó”. Chẳng qua là chuyện xã hội bình thường, đừng viết nhá! Đời sống khó khăn. Nông thôn ra. Bị gạt. Nhưng đâu phải vậy. Làm sao lừa được người ký giả đã biết rõ mọi điều. Ăn chơi của đám có tiền đã lên đến đỉnh cao: họ phải hoán đổi cả gái nhảy từ Hồng Kông, đổi món. Ở Sài Gòn, trong các nhà hàng Mỹ Cảnh, Tự Do, Chợ Lớn… dân chơi không còn thích nhảy với vũ nữ quen. Chuyện này một ông bạn của Ẩn đã gặp trong một chuyến đi Hồng Kông. Người bạn đó không biết nhảy đầm nhưng được mời vào phòng khiêu vũ. Đụng một cô vũ nữ không nhớ là ai, vậy mà cô ta reo lên “Hà, anh Hải ở Xây Cung (tức Sài Gòn) mới qua hả?” Hỏi cô ta làm gì ở đây, cô nói “Đổi qua. Mai mốt chuyển về Xây Cung lớ”.

Ông Ẩn hay kể chuyện trào phúng về cái nghề làm báo của mình. Câu chuyện vui ông nói là của Mỹ hẳn hoi khỏi ai chê trách. Con của ký giả nọ một hôm đi học, cô giáo hỏi ba làm nghề gì? Nhà báo. Báo nào con không biết. Con về hỏi ba, cô hỏi ba bạn, bạn nào trả lời cô cũng hiểu. Bác sĩ, biết khám bệnh. Luật sư, giáo sư, lái xe cô đều hiểu cả, chỉ có nhà báo là con cũng không biết giải thích thế nào. Mẹ nói: giải thích dễ lắm. Con mẹ nào đó, thằng cha nào đó không làm được nghề gì hết vì không có bằng cấp. Luật sư, bác sĩ, lái xe phải có bằng. Thằng này không có bằng cấp nào nên nó không làm được gì hết đành đi làm báo. Viết sao cho người ta đọc được thì viết. Nó làm mấy nghề khác không được.

Những chuyện kiểu “tiếu lâm” ấy ông Ẩn nói về nghề mình vừa có chất tinh nghịch lại như có một chút gì đó giải thích cho những gì “kỳ cục” mà ông đã sống qua. Nói như chế giễu vậy nhưng ông yêu nghề báo lắm, hết lòng với nghề. Rồi như nó “vận” vào ông thật, đứa con gái của ông đi học lớp hai, cũng được hỏi rằng ba làm gì. Nó giải thích nghề ký giả của ba như sau: Thấy ba toàn ra tiệm ngồi ăn, tán dóc, tới tháng mấy ông Mỹ trả lương cho ba đem về cho má đi chợ!

Ông giải thích thêm: đã là ký giả hồi đó thì thấy biểu tình, có chém chết nó cũng chụp ảnh viết bài. Thượng vàng hạ cám cái gì đám báo chí cũng tìm biết. Vì thế an ninh nó theo là phải: ký giả tụi tôi có “mùi hôi tanh” ngửi thấy từ xa. Phải chăng ông đang nhớ lại những tháng năm lăn lộn với nghề, vừa làm một nhà báo giỏi thực sự cho tòa báo của mình, vừa có thể từ vị trí nhà báo được tin cậy mà có nhiều nguồn trung gian quan trọng lấy được tin tức cho cuộc chiến đấu của dân tộc mau thắng lợi.

Ngày nay, chúng ta sống ở một thời đại mà thông tin, báo chí phát triển đến mức con người lại phải đối mặt với sự loạn tin tức, chắc hẳn có người sẽ mỉm cười khi nhìn về thời gian làm báo của quá khứ. Nó có vẻ đơn giản? Hay là mọi sự đã tiến lên nhanh quá? Khi các nhà báo phương Tây đã từng hành nghề ở Sài Gòn nay trở lại chốn xưa, họ cũng đã phải kinh ngạc miêu tả sự biến đổi của đất nước này. Chi tiết cỏn con về người con trai một chủ tiệm café chìa cuốn bài tập Oxford nhờ chỉ cách dùng điều kiện cách, một thanh niên dọn cây đổ cũng biết đài VOA đêm qua giảng đến bài số mấy – chi tiết cỏn con đó khác xa với hình ảnh đất nước này khi xưa họ biết.

Tác giả Edith Lederer lái xe từ Sài Gòn ra Đà Nẵng cố tìm các đài kỷ niệm chiến tranh xưa và ông đã nhận ra rằng căn cứ quân sự Đà Nẵng của thủy quân lục chiến năm 1965 đã biến mất trước vẻ nhộn nhịp của một trung tâm thương mại lớn của thành phố đang mọc lên. “Căn cứ Mỹ tại Biên Hòa nay trở thành một đống xà bần to quá xá và The Brinks, căn cứ Mỹ cuối cùng tại Sài Gòn, nay sắp bị san bằng”.

Họ có thể trở lại đất nước này, ngửi lại không khí sặc mùi xăng không phải của chiến trận, mà là cái bệnh ô nhiễm của xứ sở phát triển biến đổi nhanh. Họ có thể thấy sân thượng của Continental, nơi ngày xưa những phóng viên nước ngoài viết chiến tranh lui tới, nay ở đó có bán Pizza. Khách sạn Hoàng Gia chốn tiêu hoang của dân nhà báo xưa, nay là nơi bán kem Ý. Khá nhiều người Mỹ và phương Tây giờ đây lái xe, du khảo, chạy vì hòa bình trên con đường quốc lộ, mà “adrenalin trong cơ thể không còn phải lên từng cơn qua mỗi khúc quẹo như thời chiến tranh không có Việt Cộng phục kích thì cũng có Mỹ ném bom”. Thậm chí Peter Arnett còn nhận xét rằng để kinh doanh du lịch, người Việt Nam không thờ ơ với cảm giác của du khách và đã “thương mại hóa cả các chiến trường” – đó là các tour đi Khe Sanh…

Thì nói làm gì, khi thời đại đã thay đổi lớn lao con người cũng gặp cả những thảm họa mới. Từ trước đến nay các chuyên gia nghĩ rằng các bệnh mới, gay cấn, thách đố nhân loại, do virus gây ra, đều bắt nguồn từ đột biến gen. Nhưng bây giờ điều đó không đáng sợ bằng ảnh hưởng của việc xã hội loài người biến đổi. Người ta lấy thí dụ một con HIV đã có từ lâu ở Châu Phi. Nó không lộng hành như những năm 70, 80, mà hàng thế kỷ nó không vượt biên giới để đi đâu cả. Những năm 60 được gọi là những năm “không vượt qua lũy tre làng”. Chỉ đến khi giao thông vận tải và du lịch phát triển, nó đã đưa mọi thứ đến.

Trước đó thì chiến tranh, sau này là mậu dịch và du lịch khiến con người từ lũy tre làng đi đến tận cùng cuối đất, nhìn thấy mọi nền văn hóa. Chỉ không đầy một thế kỷ, nhiều thứ đã thay đổi, và tốc độ của đô thị hóa, của lối sống con người, của khai thác đất đai, của du hành bằng máy bay đã thu nhanh bước của virus. Bao nhiêu là vấn nạn, bao nhiêu là lãng quên!

Thì chàng ký giả trẻ ngày ấy, nay đã ngoài 70 tuổi rồi còn gì. Tuổi thanh xuân của ông vật lộn với những cam go, với sống còn, với lòng can đảm hy sinh, sự lựa chọn con đường. Nó cũng gay go khủng khiếp, cần sự quật cường. Có thể nhìn thấy cái bối cảnh mà thế hệ ông đã sống, qua vài con số. Bức tranh còn lại là 15 triệu tấn bom đã ném xuống nay vẫn còn 300 ngàn tấn chưa nổ. 3 triệu người chết, 4 triệu người bị thương, 2 triệu người nhiễm chất độc hóa học, 170 ngàn người già mất người thân phải sống nhờ xã hội…

Nếu đứng lùi để nhìn lại bức tranh ấy, với hình ảnh một con người không mang súng đạn phải đương đầu. Ông đã như mọi người khác ở Việt Nam phải nếm trải. Nhưng cũng có thể nhìn từ một vị trí khác, góc độ khác sẽ thấy một hình ảnh của cuộc đời lạ lùng.

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 6: Làm báo không phải là đội lốt

Là một nhà tình bào vĩ đại, một phóng viên cự kỳ xuất sắc. Vậy với ông thì quan niệm chúng thế nào ? Hãy cùng đọc bài viết nhé.

Với ông, làm báo không phải là đội lốt. “Bình phong để hoạt động không phải là cái vỏ, không phải là sự đội lốt trá hình, đó không phải sự ngụy trang bên ngoài. Phải thực sự sống bằng nghề đó một cách trong sạch – Sống mãn đời nghề đó mới mong tiếp cận được mọi điều. Đó là cả một nghệ thuật sống”…

pham-xuan-an-1

Một mối hoài nghi, một câu hỏi tò mò nhất mà giới báo chí phương Tây vẫn còn hỏi ông Ẩn. Đó là câu hỏi của Morley Safer: “Họ có yêu cầu anh bịa đặt tin trên báo Time không? Chữ mà người ta thường dùng là “đưa tin thất thiệt”. Ông Ẩn trả lời: “Không. Họ đủ khôn ngoan để thấy rằng loại tin ấy dễ bị phát giác. Họ dặn đi dặn lại tôi là không làm bất cứ điều gì có thể phương hại tới công tác”. Họ đây là phía Cách mạng. “Công việc khởi đầu một cách thực sự vào năm 1960 khi ông Ẩn làm việc cho hãng Reuters. Lúc đó ông đã mang quân hàm trung đoàn trưởng, nhưng thực ra chưa bao giờ ông mặc quân phục, chưa bao giờ mang súng. Có lẽ cây súng của ông là cây viết và một cái đầu cùng con tim của người chiến sĩ. Trong những năm làm việc cho báo Time, ông đã thăng quân hàm đại tá” – Nhà báo nước ngoài viết vậy.

Trong căn phòng có vẻ hỗn độn nhưng sạch sẽ và đầy sách vở, không có “mùi bùn tỏa ra từ chồng sách báo đang từ từ mục trong cái khí hậu ẩm thấp của Á châu” như lời của nhà báo phương Tây miêu tả. Ông Ẩn vẫn sống trong phong cách của một người nghiên cứu và biết dung hòa với tuổi tác ngày càng cao của mình. Công việc bận rộn suốt ngày, chỉ ngồi ở căn phòng khách, ta có thể tưởng tượng ra khối lượng công việc của ông. Bể cá phải thay nước thường xuyên. Những lồng chim treo đầy cửa, đặt trên kệ. “Con này 10 năm rồi đó” – ông chỉ về phía con chim quý và dẩu môi ra huýt sáo chẳng ngần ngại, như ông và chú chim kia vẫn thường nói chuyện cùng nhau. Dưới mắt tôi, con chim nhỏ xíu chỉ bằng quả chuối ngự kia, thật “đáng sợ”: Để cho nó được sạch sẽ và no nê cất tiếng hót, chủ nhân phải hầu hạ nó nhiều công lắm!

Vì sao ông chọn nghề báo, và giữa nghề báo thực sự với công việc của một sĩ quan tình báo, hai việc đó liên quan nhau thế nào? Làm thế nào để đúng như ông nói – Chỉ huy của ông luôn dặn đi dặn lại là đừng làm gì phương hại tới công tác của một nhà báo.

“Bình phong để hoạt động không phải là cái vỏ, không phải là sự đội lốt trá hình, đó không phải sự ngụy trang bên ngoài. Phải thực sự sống bằng nghề đó một cách trong sạch – Sống mãn đời nghề đó mới mong tiếp cận được mọi điều. Đó là cả một nghệ thuật sống. Nội cái đó không thôi cũng đã là cả một cái luận án.”

Ông lấy thí dụ Graham Greene (tác giả cuốn The Quiet AmericanNgười Mỹ trầm lặng) hết làm tình báo trở thành nhà tiểu thuyết. Nếu không là một người trong giới trong nghề, nếu chỉ là sự ngụy trang bên ngoài, sao ông có thể trở thành một tiểu thuyết gia.

“Người muốn tạo ra phải ở trong giới đó – Sống mãn đời với nghề.”

Theo ông, có ba nghề quan hệ rộng nhất, có lợi cho công việc của tình báo, đó là luật sư, bác sĩ, giáo sư. “Thật ra, báo chí rất dễ bị nghi. Cách cả cây số có mùi nó rồi. Cứ nghi là chắc. Nó chuyên phủ định, Negative, moi móc cái tiêu cực. Xã hội lúc đó giàu và quyền thế là thiểu số. Còn đông số nghèo khổ ,uất ức sẵn. Nghề này cần đổ cái tiêu cực của đám quyền thế đó ra. Và người làm việc đó là anh nhà báo”.

Ông như người phân tích kinh tế, lấy hình ảnh chia cái bánh: “Sản xuất ra ít, nhu cầu nhiều, thì bánh chia thế nào. Dân nghèo đa số chỉ được miếng bánh nhỏ. Ức hoài. Ký giả viết thường bám vào những quan tâm của đa số đó. Tờ báo nhiều người đọc mới có quảng cáo. Một trang một kỳ mấy chục ngàn đô. Hình bìa báo tuần là 50 ngàn đô. Đó là giá ngày xưa. Nay mắc hơn nhiều”. Ông giải thích: Đó là lý do vì sao an ninh “theo” ký giả trước. Bởi dù nếu không làm tình báo, chỉ làm một phóng viên chuyên nghiệp cũng moi móc tin. Nhưng nghề nào cũng phải đạt tới mức chuyên nghiệp và phải có lương tâm nghề nghiệp.

Nghề dễ chọn làm nghề để hoạt động là luật sư, bác sĩ, nhà giáo, “kể như tính mạng bệnh nhân giao cho bác sĩ”; giáo sư không bao giờ dạy con mình làm bậy, do đó được phụ huynh tin cậy. Còn luật sư, nhất là cãi án hình sự thường bênh vực được người yếu thế, oan ức. Về cái nghề luật sư này, ông Ẩn có câu chuyện tiêu biểu của người em ông, sau này là một vị đại biểu Quốc hội khóa VIII của tỉnh Cần Thơ. “Thời kỳ tòa án xử bà Huỳnh Tấn Phát, tòa chỉ định em tôi, luật sư mới ra trường lúc đó đứng ra bênh vực. Nó theo vụ án tới cùng. Còn nếu là tiền bao nhiêu đi nữa, nếu biết án giết người là nó từ chối. Lương tâm nghề nghiệp nó dạy vậy.”

Nếu coi bình phong chỉ là thứ nghề giả tạo mà không giỏi thật sự, không làm nghề thật sự thì “chết như không”. Ông Ẩn vẫn còn nhớ chuyện của một điệp viên đóng vai cố vấn cho Nguyễn Chánh Thi lúc đó là tư lệnh quân đoàn. Một sĩ quan cao cấp bên an ninh đối phương có quan hệ khá thân, một hôm bảo Ẩn: “Toa làm cho báo Mỹ phải cẩn thận nhá. Ông Sáu Già là Việt Cộng đó (Sáu Già là một điệp viên từ Bắc vào làm cố vấn cho tướng Thi). Phải cẩn thận đó nghe. Toa có tính tốt, moa nói cho toa kiểm tra coi chừng”.

Vì sao sĩ quan an ninh này biết ông Sáu đó là Việt Cộng? Viên sĩ quan này vẫn không hề biết Ẩn cũng là một điệp báo Cộng sản. Ông ta vẫn nghĩ Ẩn chỉ là một phóng viên giỏi của báo Mỹ. Còn Ẩn, cũng không có cách nào để giúp vì nguyên tắc bí mật hoàn toàn. Ẩn chỉ rút ra bài học nghề nghiệp từ ông Sáu Già đó. “Moa biết là vì để ý thấy hễ ai quan trọng nói chuyện với ông Thi, ông Sáu thế nào cũng ngồi ở giường phía trong bức bình phong”. Viên sĩ quan nhận xét vậy, rồi xui ông Ẩn “Toa cứ thử vào phỏng vấn tướng Thi mà coi. Nó ngồi nghe đó. Có ký giả ngoại quốc là nó cho có chuyện quan trọng, thế nào cũng ngồi nghe”. Ông Ẩn thử làm, y như vậy. Ẩn dẫn ký giả nước ngoài vào phỏng vấn tướng Thi và thấy cảnh đó diễn ra thật. Sau đó, Mỹ giao cho tình báo kiểm tra ông Sáu. Ông Ẩn biết được cách kiểm tra của họ là do “đàn em” thân tín của ông, chính là người được phân công kiểm tra.

Cách kiểm tra ra sao? “Tôi sẽ dẫn thằng học trò lại vì ổng nói ổng là giáo sư trung học dạy toán ở bên Campuchia về. Mang thằng học trò lại, nói ngày mai thi rồi có bài toán bí quá nhờ giảng hộ”. Hắn đã làm như thế thật, và ông Sáu đã không giải được bài toán lớp bảy. “Sau này ông Sáu đã bị giặc bắt và ông Thi bị đưa đi Mỹ lưu vong”.

“Bình phong phải là một cái nghệ thuật, phải sống thật với nghề, phải giỏi, không thể ghép vô đóng giả được. Bác sĩ giỏi cứu được người bệnh, mới có quan hệ thân được”.

Trở lại sự nhìn nhận thời cuộc lúc đó, ông Ẩn cho rằng tình báo của các nước đều đi theo kiểu “ăn sâu trèo cao” nhưng thực tế cho thấy lên cao chừng nào thì lại có sự hạn chế chừng đó. Lên không phải dễ, nước nào cũng vậy. Phải có một nghề phù hợp với mục tiêu đối phương.

Đời ông đã từng biết câu chuyện thực tế về việc “đánh vô” không hề dễ dàng. Khi ký Hiệp định Genève, đất nước tạm chia đôi. Âm mưu của Mỹ là không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định đã ghi. Trong số những người di cư vào Nam, có hai thanh niên trẻ được cách mạng đào tạo. Con đường của họ là phải học hành thành sĩ quan chuyên nghiệp thực sự. Bao giờ thành tài, họ sẽ được giao nhiệm vụ sau. Hai thanh niên ráng học giỏi, được sang Mỹ đào tạo quân sự. Trong khi đó, có một cán bộ ngoài Bắc vào nắm tình hình và bị bắt khi chưa ổn định. Bị tra tấn dã man, ông đã khai ra kế hoạch đào tạo hai chàng trai nọ. Người tình báo bị bắt lẽ ra phải tự tử nếu chịu không nổi, vì nguyên tắc của địch là đánh cho tới khi khai. Khai ít đánh cho khai nhiều, khai nhiều rồi đánh nữa cho khai hết. Ai còn sống được là mừng. Có người bị giặc chích thuốc cho lên cơn thần kinh, bị ám ảnh ma quỷ bóp cổ để khai những gì còn nằm trong tiềm thức. Có thể nói đó là sự thử thách quá giới hạn của sức người. Sống thì thân tàn ma dại. Chính quyền ngụy không đủ phương tiện tra khảo thì chỉ dùng đòn đánh dữ. Ông cán bộ này chưa được huấn luyện kỹ. Một thử thách nữa là tình báo đảng viên lại có quy định giữ trọn khí tiết, không được tự tử, thế mới khổ thân.

Là một người được coi như một chuyên gia, ông Ẩn được phép quan hệ với nhân viên Quân ủy Trung ương ngụy, mặc dù lúc đó ông là chuyên viên ăn lương Phủ Tổng thống. Ông được tin cậy tới mức Điều lệ của Đảng Cần lao cũng đưa ông sửa và góp ý. Ông Đỗ Mậu (mà người ta gọi chệch là ông Đổ Máu – ông ta là đại tá giám đốc An ninh Quân đội) hỏi ông Ẩn: “Hai thằng này tính sao?”. “Khổ quá. Việt Cộng nó ghê gớm. Bây giờ kêu hai thằng đi học đó về, bắt xác nhận có việc đó. Chứ tụi nó mới đi học, đã hoạt động gì đâu. Cho đối chất chúng cũng biết ai đâu mà nhận mặt. Ra tòa cũng không kết tội được vì chúng chỉ đi học thôi, chưa hoạt động, đâu có tội gì”. “Thế hai thằng đó nó phải làm gì?” “Bắt xác nhận”. “Xác nhận xong làm gì?” “Đuổi nó ra khỏi quân đội. Bởi khi nhận việc, chúng nó tuổi vị thành niên”.

Việc diễn ra y như rằng, hai thanh niên kia bị gọi về nước tạm để kiểm tra thẩm vấn và sau cho ra khỏi quân đội. Câu chuyện cho thấy cài người khó như thế nào. Tạo bình phong từ nguồn đến vậy rồi mà còn hỏng. Ông Ẩn nhận xét và nhớ lại như đang bình luận một câu chuyện cũ. Trong buổi chiều thanh bình ở một thành phố mà mối quan tâm của tất cả dân chúng là hối hả làm ăn, thì câu chuyện xa xưa này nghe khó cảm nhận được hết.

Theo câu chuyện của ông, thời cuộc lúc đó hiện ra trong lời vắn tắt mà rất khốc liệt. Sau những năm 1957-1958, các lưới tình báo của ta bị bắt hết. Dương Văn Hiếu cảnh sát đặc biệt Miền Trung dưới thời Ngô Đình Cẩn rất có kinh nghiệm nắm rõ hoạt động của ta. Chính ông Mười Hương, chỉ huy của ông Ẩn, cũng bị bắt trong thời gian đó. “Tôi đang học ở Mỹ – ông Mười Hương giữ được khí tiết, không khai ra nên tôi an toàn”. Ông Ẩn nói rất kỹ về nỗi khó khăn của việc tạo vỏ bọc, của bình phong. Chính Mỹ dạy về nghề tình báo này kỹ lắm. Phải bí mật tuyệt đối. Họ dạy rằng khi nói chỉ một chuyện mật với một người khác thì phải coi là 11 người biết, còn nói với 3 người là 111 người biết.

Việc giữ bí mật quan trọng tới mức nếu một điệp viên được quá 3 người chỉ đạo là phải đổi sang bình phong khác. Tạo bình phong hoạt động cho một điệp viên rất khó và đòi hỏi nhiều thời gian, công phu và nghệ thuật.

Cách rất tốt là điệp viên đó phải đạt được tới mức trở thành chính khách, các giới đều tìm đến tham khảo ý kiến. “Giới quân sự cũng chạy tới. Bên kinh tế cũng qua hỏi. Nhưng không phải dễ đưa ra lời nhận định. Khi đã được coi như chính khách rồi thì phải hết sức khách quan khi phân tích tình hình, đóng góp được những ý kiến có giá trị”. Có người được thăm dò để chuẩn bị vào chức bộ trưởng, cũng tới hỏi, nhờ phân tích xem có nên nhận không, sẽ gặp khó khăn thuận lợi nào. Thậm chí có người sắp tiếp giới báo chí cũng tới hỏi ông Ẩn xem “Có nên tiếp thằng này không. Nó sẽ hỏi gì. Trả lời thế có được không”.

Ông Ẩn còn nhớ có một người là tiến sĩ toán học, tốt nghiệp bên Tây về, bạn của bộ trưởng giáo dục nên được chỉ định làm giám đốc Trung học. Vị tiến sĩ này về nhận việc thấy nội bộ nơi mình làm lại đang có chuyện không hay với Phủ Tổng thống. Hai bên mâu thuẫn, và tất nhiên là cơ quan đó bị Phủ Tổng thống “đánh”. Hoảng quá, vị tiến sĩ cũng tìm đến Ẩn, “tay nhà báo chuyện gì cũng biết”. “Nó đánh nhau, moa ở giữa sợ bị đạn. Có cách nào giúp không”. Vốn rất quen biết Phủ Tổng thống, ông tìm đến người phụ trách. Câu chuyện thân mật đã giải quyết vấn đề thật nhẹ nhàng: “Nè, tôi có người bạn mới về làm giám đốc đó, ông nội! Nhắn biểu đàn em cho nó yên được không?”. “Không dính dáng chính trị phải không?” “Ừ. Nếu được thì ra lệnh đàn em đừng động đến bạn tôi, tội nghiệp nó!”

Ở đời phải giúp đỡ người khác, giúp rất nhiều. Ông Ẩn còn có cả núi kinh nghiệm giúp cả mấy cô gái “ăn sương” thường bị nhân viên bảo vệ thuần phong mỹ tục (tiếng Pháp gọi là agents – de – moeurs) hỏi thăm. Từ việc to đến việc nhỏ, chẳng có việc gì lường trước được. Đôi khi tình thế xoay chuyển đạt kết quả bất ngờ, dựa vào những ứng xử mang đạo lý chứ chẳng phải bùa phép gì đặc biệt. Ngày đó, luật sư Nguyễn Hữu Thọ có cô con gái yêu một người Mỹ. Vốn thù luật sư theo kháng chiến nên chính quyền Sài Gòn lúc đó định làm lớn việc này ra bôi nhọ thanh danh ông. Viên trung tá cảnh sát nói dự định sẽ bắt người con gái đó ra xử tội. Lý do là “vi phạm thuần phong mỹ tục” vì chứa người Mỹ trong nhà khi chưa kết hôn và không khai báo với cảnh sát. Nghe được dự định này, ông Ẩn cản: “Đừng làm vậy. Hạ sách. Con ổng tự do. Bôi nhọ không được đâu. Người ta hy sinh cả gia đình đi vô chiến khu, đâu có mang con theo đâu mà quy trách nhiệm ổng. Ổng là trí thức lớn có uy tín, bôi nhọ kiểu đó không được đâu, lại lòi ra nhà nước quốc gia hành động bần tiện. Mà làm như vậy thì cũng là bôi nhọ luôn cả thằng Mỹ nữa”.

Những lời hợp lý và tỏ rõ ứng xử khôn ngoan ấy đã ngăn không cho việc xấu xảy ra. Hơn thế nữa, qua cách ứng xử ấy, những kẻ đang tính mưu mô bẩn thỉu còn thấy ở ông Ẩn một nhân cách trí thức biết tự trọng. Lời khuyên ấy giúp họ tránh được những cư xử sơ hở, ngu ngốc, nếu không, họ đã trở thành người bị chê trách. Những lợi ích như thế, qua nhiều thử thách lớn nhỏ của cuộc sống, khiến Ẩn được yêu kính và tin cậy. Ở đời phải giúp rất nhiều mới mong có quan hệ tốt, sự tin cậy và giúp đỡ lại. Không phải là trả nợ ngang giá, mà nhiều khi ông được giúp hoàn thành những nhiệm vụ to lón liên quan đến vận nước…

Đang nói chuyện về cái bình phong, cái vỏ bọc nghề nghiệp, ông Ẩn phải ngừng câu chuyện để nghe điện thoại. Không rõ câu chuyện của ông với ai đó, liên tưởng tới câu chuyện bỏ dở, ông buông máy điện thoại để tiếp tục cái ý nghĩ liên quan tới lối ứng xử mà ông suốt đời tuân theo.

“Ông bạn này người Hoa, 70 tuổi, bạn tốt. Cuộc sống ở đời có hai cái: thứ nhất là quan tâm đến người khác. Thứ hai là phải tranh thủ chơi với người bạn tốt, dù cho người xấu có nhiều, càng ngày càng xấu. Phải làm bạn thật tình cho hết cuộc đời. Đời thành công cũng nhờ hai cái đó”.

Tuoitre

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn kỳ 5: Con người có 3 nền văn hóa

Phạm Xuân Ẩn hay nói “Ông có ba nền văn hóa ”. Vậy thực hư truyện này là sao ? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu.

Quả thật ông không bao giờ giấu giếm ý nghĩ rằng đã học được rất nhiều điều ở Mỹ và có thể coi thời gian đi học ở trường báo chí Orange Coast tại quận Cam, California là những năm quyết định quan trọng đối với ông. Người dân Mỹ trung thực, công bằng, cởi mở và tử tế. Họ cho thấy phần nào khái niệm về tự do và lòng tôn trọng quyền của con người. “Họ chỉ cho tôi cách nhìn mọi sự theo con mắt của người khác, phê phán bản thân mình trước hết. Họ dạy các thế hệ biết lao động, biết trở về thực tế. Tôi mong muốn con cái tôi được giáo dục ở Mỹ”. Ký giả nước ngoài vẫn thường trích dẫn ý kiến này.

pham-xuan-a

Nhưng họ không biết rằng việc Ẩn sang Mỹ du học vào cái năm 1957 trên danh nghĩa tự túc bằng tiền hưu trí thôi việc lúc mới 30 tuổi, có 7 năm làm việc, có đủ tiền máy bay lúc đó giá 600 đô – cuộc đi đó do Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định. Nếu không quá khó khăn, Đảng muốn Ẩn học từ 4 đến 6 năm để có bằng tiến sĩ. Mục đích của Đảng giao cho Ẩn phải học thật giỏi, và tìm hiểu nước Mỹ. Chính vì thế Ẩn đăng ký học lịch sử – địa lý – kinh tế Mỹ, báo chí, quân sự… Không những thế, Ẩn có ý thức tích lũy những kỹ thuật, nghiệp vụ, các bài học rút ra từ các tài liệu của Mỹ, Liên Xô, Nhật. Ông đã kể lại những ngày đi học ở Mỹ, với bạn ông, nhà báo Hồng Liên như sau:

“Chính người Mỹ dạy tôi nhiều bài học bổ ích. Tôi còn nhớ, trước khi đi, bên nhà dặn tôi phải ráng học cho xuất sắc. Tôi vâng lời. Một hôm, bà giáo dạy môn Anh văn hỏi: Tôi thấy môn này anh đã giỏi rồi, đâu cần học nữa. Tôi nghi anh qua đây không phải để học mà làm chuyện khác. Giật mình, tôi ráng trả lời một cách bình thản: nước tôi nghèo, nên tôi phải ráng học, học bất cứ cái gì có thể để về phụng sự quê hương tôi. Bà đáp: Ừ, bây giờ thì tôi tin anh. Tôi nghi ngờ anh là vì hồi Đệ nhị thế chiến, tôi huấn luyện sĩ quan tình báo, nên có bệnh nghề nghiệp (!). Anh bạn học chung lớp cũng thắc mắc tại sao tôi phải cố học cho giỏi. Hắn nói: Mày học xong sẽ về hay ở lại? Nếu ở lại, tao khuyên mày nên đi chơi nhiều hơn. Người Mỹ không thích học quá giỏi, vì học giỏi khó kiếm được việc làm hơn người học trung bình. Người thuê lao động nếu mướn người có học lực khá, họ yêu cầu phải làm việc gấp rưỡi hoặc gấp hai người thường. Và họ cũng không thích mướn những người học giỏi làm chung với người học bình thường.

Từ dạo ấy, tôi bắt đầu mê chơi. Một bài học khác: Khi học môn nói chuyện trước công chúng, tôi không hiểu sao bài của mình luôn bị điểm C dù đã gắng hết sức. Tức quá, tôi hỏi chị bạn ngồi kế bên. Chị nói: Vị giáo sư là người không ưa Cộng sản. Mà tôi thì thấy anh ưa dùng từ kiểu Cộng sản. Anh không được điểm cao là phải. Hóa ra là khi tôi ở Việt Nam, tôi hay đọc sách báo cách mạng viết bằng tiếng Anh. Tôi quen vốn từ vựng cách mạng và sử dụng nó trong bài kiểm tra mà không biết. Về sau, mỗi lần làm bài, tôi lại nhờ chị sửa giúp từ vựng. Và bài đạt được điểm B. Mặt khác, khi về nước tôi không dám giao hảo với nhiều người Việt. Tôi làm báo nhưng làng báo Việt Nam tôi hầu như không quen ai, trừ một vài chủ bút. Ngay cả trong tình cảm riêng cũng phải đè nén lại. Hồi ở Mỹ tôi có yêu một cô gái và định cưới cô ấy. Nhưng tôi cưới vợ Mỹ thì công việc của tôi sẽ càng rắc rối thêm. Vậy là chúng tôi chia tay nhau.”

Sau khi học ở Mỹ về, ông làm việc ở Việt Tấn xã, cơ quan thông tấn chính thức của chính quyền Sài Gòn. Một năm sau chuyển sang viết cho Reuters. Bốn năm sau, ông chuyển về tờ New York Herald Tribune. Từ năm 1965 – 1976 ông là phóng viên Việt Nam duy nhất viết cho Time.

Ngày nay, khi mà loài người tự nhận thấy sự biến đổi của thế giới một cách rõ ràng hơn, giao lưu với bên ngoài nhiều hơn, thì lối sống cũng thay đổi. Người ta biết rõ có nhiều lối sống khác với bao nhiêu là thách thức: Thông qua Internet, người ta có thể thấy những luồng thông tin như thác đổ. Nhân loại biết tự phê phán và mổ xẻ những nghịch lý của thời đại mình và họ đã viết ra trên Internet: “Chúng ta có nhiều tòa nhà cao hơn nhưng tính cách lại nhỏ hơn, đường cao tốc rộng hơn nhưng quan điểm hẹp hòi hơn, chúng ta chi xài nhiều hơn nhưng gia đình lại nhỏ hơn. Nhiều tiện nghi hơn nhưng ít thời gian hơn. Nhiều bằng cấp hơn nhưng lại kém ý thức hơn. Thời của thức ăn nhanh mà tiêu hóa chậm, lợi nhuận quá cao nhưng quan hệ hời hợt. Thời của hòa bình thế giới nhưng nội chiến và thiên tai nhiều hơn”…

Nhân loại tự nhận thấy mình uống quá nhiều, chi quá lố, giận quá mau, thức quá muộn, dậy quá mệt, tăng số của cải nhưng lại giảm giá trị của mình… Một thời kỳ mà nhân loại nhìn lại mình tiến những bước dài để sang một thiên niên kỷ mới – Trong đó vệ tinh đầu tiên con người đầu tiên đi lên vũ trụ, bệnh AIDS được phát hiện, có cuộc cách mạng Internet và có công ty Microsof, và nhân bản được cả con người…

Trong thế giới ấy, ở khắp nơi có đủ các kiểu sống. Chẳng phải chỉ ở phương Tây xa lạ mà ngay ở phương Đông, ở nước Nhật, người ta cũng đã thấy được một lối sống không phải của ít người, có tới 10 triệu “con ký sinh sống độc thân” . Công thức và hình ảnh tiêu biểu thường là: một cô gái ngủ 9 giờ mới dậy, mẹ đã làm thức ăn sáng. Lao vào đi làm tới 9, 10 giờ đêm mới về. Đi chơi, cưỡi ngựa, đánh golf, mỗi năm nghỉ nước ngoài tiêu hết 9.000 đô. Thời đại của những ký sinh sống độc thân, dựa vào cha mẹ, rút vào vỏ ốc, xa rời xã hội. Người ta nói rằng có cả thế hệ người – chứ không phải số ít – đã lẫn lộn giữa hai chữ hạnh phúc và tiện nghi vật chất. Rồi người ta lại hy vọng như một vị giáo sư ở Nhật nhận định: Một xã hội sau thời kỳ nhộn nhịp sẽ đạt đến thời kỳ trầm lắng và chỉ đến lúc tụt xuống quá mức thì những nhu cầu bức bách sẽ giục nó dậy lên…

Nếu như vào thời hiện đại, thì suy nghĩ của ông Ẩn về con đường rèn luyện cho một niên thiếu thành người theo cách ông thấy được ở Mỹ sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu ta đứng lùi lại nửa thế kỷ khi đất nước Việt Nam còn biệt lập trong nỗi đau bị xâm lược, thì những mong muốn của ông Ẩn, cách suy nghĩ của ông cho con cái mình yêu lao động và thực tế “dễ lòi ra mình là Việt Cộng vì lúc đó ở Miền Nam giới công chức không ai nghĩ và làm như vậy”. Ông Ẩn nhớ lại cái thời mà ông là phóng viên của tờ Time, muốn con mình gần đời sống bình dân, thấy cảnh cơ cực để mà thành người. Ông nói: “Ngày đó tôi còn muốn con đi theo các chuyến xuống nông thôn cho nó thấy cảnh cực. Cho nó biết lội bùn, thấy con nít nhà quê ăn cơm bằng chén làm từ muỗng dừa đen bóng”. Ông muốn thằng con trai mình phải tập làm việc, biết giao tiếp, và định xin cho nó tập làm bồi ở nhà hàng Givral.

“Tôi muốn cho nó làm trong dịp nghỉ hè, biết làm bồi làm bếp, giao dịch, chạy bàn, lấy menu. Để sát với dân”. Ông sợ con mình giống như con cái của gia đình khá giả xa cách với cuộc sống – lúc đó Ân, con trai ông mới 12 tuổi.

“Mình làm vậy là bị nghi Việt Cộng. Nhưng tôi là vậy. Con nhà Mỹ nó làm việc nhiều. Mỹ nó dạy như vậy. Tôi thấy vậy là khôn”. Người ta ngạc nhiên và cũng ngại không dám nhân cho Ân tập làm bồi. “Các ông sợ nó lóng ngóng không biết làm? Hễ nó đập bể cái gì, tôi thường”. Nhưng ý định này chưa kịp thực hiện thì miền Nam giải phóng, cuộc đời đã thay đổi. Ông nói: “Cái cách nghĩ như vậy, giới thượng lưu miền Nam lúc đó cho chỉ có Việt Cộng mới dạy con lao động cực khổ. Tôi thì nghĩ điểm này nói là của Việt Cộng cũng được, mà nói Mỹ hóa cũng được”. Con của tụi Mỹ như ông đã thấy, “người ta nuôi con, đảm bảo cho con ăn học, có bệnh tật thì chạy chữa, đảm bảo những nhu cầu cơ bản. Nếu muốn xài hơn, thì đi làm việc kiếm tiền. Rửa xe, cắt cỏ… Dạy nó biết tiền từ lao động mà ra. Dù gia đình có là tỷ phú cũng vậy. Tôi thấy vậy là khôn”.

Phải lao động tay chân – lao động bao giờ cũng phát triển nhanh tư duy. Từ lao động chân tay mới vô trí óc. Phải lao động mới ra sáng kiến. Nhà trường Mỹ dạy kỹ lắm. Nhỏ xíu đã phải học cả những giờ học về cây cối. Ông thầy chỉ cách, trò tự trồng đậu, bắp, mía, biết cái cây nó lớn thế nào. Lớn chút ít học thêm nghề mộc, được dạy cách cầm bào, cưa, tập đóng bàn đóng ghế.

Ông thường dẫn con trai lên Thủ Đức vào những ngày nghỉ, vạch cả hàm răng trâu cho con xem để biết con trâu chỉ có một hàm răng. Chẳng gì làm cho nó nhớ liền bằng cái cách nhìn thấy tận mắt như vậy. Về quan niệm lao động để phát triển con người thì ông Mác đã dạy – Việt Cộng càng coi là lối sống căn bản. Vậy mà nếu anh sống theo cách đó, có thể là Mỹ hóa.

“Có ba nền văn hóa trong tôi” – lời ông Ẩn tự nhận, nó bao trùm lên toàn bộ tính cách và cuộc đời hoạt động của ông. Có lẽ phải hiểu lời ấy trên cách cảm nhận về thời cuộc, sự lựa chọn con đường dấn thân. Như ông đã từng trả lời phỏng vấn Morley khi được hỏi là làm thế nào để không bị lộ tung tích trong suốt bấy nhiêu năm. Ông nói: “Cái đó không khó bằng sự trung kiên”, sự trung kiên mới thực sự là vấn đề. Một số ký giả Mỹ cho rằng ông học được ý niệm về sự trung thành này từ các đại học Mỹ. Cũng có thể ông Ẩn đã được thấy và sống cùng với những người bạn Mỹ trung thực. Do đó theo ông, ở một mức nào đó, sự trung thành hoàn toàn là một ý niệm Mỹ.

Những lời như thế, không rõ thực hư là ông Ẩn có nói như vậy và các ký giả Mỹ có phần vội vã chăng khi họ có thể thừa nhận sự thấu hiểu triết lý thâm sâu của văn hóa Việt Nam. Trong ngôi nhà giản dị nhưng không quá nghèo khổ, cả gia đình ông sống theo tinh thần “xã hội chủ nghĩa” – chữ dùng của ông, khi tâm sự chút ít về chi tiêu trong nhà: “Phải có ngân sách, phải biết rõ kiếm từ đâu ra để chi. Các con nhỏ còn đi học, chi tiêu theo mức của ngân sách cho phép. Phải tiết kiệm”. Ăn thứ gì đủ dinh dưỡng, không cần xài đồ mắc tiền. Xưa người ta mặc đủ ấm, nay đẹp, tùy con mắt, nhưng phải coi ngân sách mà tính. Đi làm cũng vậy. Phải đọc sách, phải học. Con trai cũng phải biết chăm con…”

Đó là khái niệm “Việt Cộng” hay khái niệm Mỹ, ai muốn nói gì thì nói, điều chủ yếu không phải chỉ là lối sống vụn vặt bình thường hàng ngày. Nếu muốn nói đến nguồn cội văn hóa nào đã làm nên tính cách một người Việt Nam như ông Ẩn, thì phải bắt nguồn từ nhiều điều sâu xa hơn. Nó được chứng minh bằng sự lựa chọn của cá nhân đối với vận mạng gieo neo của đất nước mình. Nó còn là sự khôn ngoan của con người trước mọi biến đổi của pháp tướng vô thường.

Nguyễn Thị Ngọc Hãi

Tuoitre

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn Kỳ 4: Đồng chủ nhân trong vườn

Kỳ 4 này chúng tôi mang đến bạn bạn thêm thông tin về vị điệp viên tài ba Phạm xuân ẩn.

Cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm dò nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… Ông Ẩn, chờ đón, xem xét, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho chúng đến ăn rồi lại đi. Chúng là những “đồng chủ nhân” trong mảnh vườn nhỏ với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống…

pham-xuanTTO – Cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm dò nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… Ông Ẩn, chờ đón, xem xét, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho chúng đến ăn rồi lại đi. Chúng là những “đồng chủ nhân” trong mảnh vườn nhỏ với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống…

Chiếc cổng sắt lúc nào cũng đóng kín, có một cái chuông cũng đặc biệt: không nhấn nút cho reo, mà giật vào sợi dây dài. Một cái chuông nhỏ ở đâu đó kêu leng keng lạ tai. Có lẽ vì vậy mà thỉnh thoảng đám con nít đi qua cổng “ngứa tay” lại giật chơi. Chúng tưởng rằng chỉ có bầy chó sẽ xô ra sủa mà không biết rằng mỗi lần như thế, có rất nhiều “nhân vật” kinh động. Không phải chỉ có chủ nhà…

Thông thường, ở Sài Gòn thời mở cửa, bắt đầu cuộc làm ăn thị trường sôi động, nhà mặt tiền trên phố thế này chẳng ai không nghĩ cách tận dụng, xoay ra tiền bạc. Ngôi nhà của ông là một biệt thự hạng thường mà theo miêu tả của Henry Kamm thì “tướng của quân đội Việt Nam cũ không bao giờ cư ngụ trong căn nhà khiêm nhường đến thế”. Nếu ông bán đi như người ta thường làm, để lấy số tiền lớn mua một căn nhà nhỏ hơn, dôi ra được ít tiền. Hoặc nếu ông xây cất thêm chi chít, cho thuê, mở cửa hàng, hoặc làm quán ăn, café vườn… thì đó cũng là phương án thông thường của người Sài Gòn ngày nay. Nhưng ngôi nhà của ông giữ nguyên một mảnh vườn nhỏ phía trước. Tôi cảm nhận nó giống như một lời thầm nói lên tính cách của chủ nhân.

Một người từng trải qua mọi sang, hèn, đã là một ký giả như một chính khách thời thượng nhất, giờ đây “ông Ẩn còn yếu đuối hơn những ngày ông làm phóng viên” – lại lời của Henry – “Một người yếu đuối cong xuống nhưng không dễ dàng bị đánh gục giống như cái cây trong giông bão”.

Tôi cũng giật vào cái chuông đặc biệt trước nhà. Ông ra mở cổng sau khi đã chải đầu thật gọn gàng. Không rõ là kiểu tóc luôn được chải vậy hay là vừa mới gội đầu. Có khi ông vẫn mặc áo ba lỗ, ra mở cổng ngay sợ khách chờ lâu bên ngoài. Nếu mà nghe kể tên những thứ ở khoảnh vườn nhỏ thì rất dễ bị hình dung ra bài trí của biệt thự sang mà ta hay gặp. Nhưng khu vườn lại rất bình thường với vài ba khóm cây cao, còn lại là các loại hoa cây nhỏ và thấp xuống bên dưới khiến người ta khó mà nói ngay rằng đó là mảnh vườn trồng rau hay là vườn êm ả của các bụi cây cho bóng mát và sự yên tĩnh. Một con chó đá đen trùi trũi ở gần bậc cửa, nơi có một chiếc bàn đá nhỏ có thể ngồi chơi uống nước hóng mát các buổi chiều. Cái bàn này chỉ cách đường phố ầm ĩ gầm gào xe cộ suốt ngày đêm bởi vài bụi cây nhỏ. Vậy mà vị trí của nó đã đem lại ngay sự thanh bình rồi.

Mỗi tiếng chuông giật không chỉ là bầy chó sủa, mà làm kinh động nhiều “nhân vật” nào vậy? Khách không nhận ra ngay bởi họ đang bước vào khoảnh vườn vắng trước cửa. Chỉ đến khi quan sát các công việc tỉ mỉ, rất nhẹ nhõm của ông, mới thấy ở đây được khá nhiều vị khách lạ nhòm ngó lui tới. Không chỉ mình ta là vị khách bước vào.

Ông Ẩn bắt ổ chim, đỏ lói mới nở và cho chúng ăn bằng trứng kiến. Ông lấy ra thứ trứng kiến trắng như gạo, mềm, nhỏ li ti. Đó là trứng mới đẻ. “Kiến vàng đít chua lắm. Nấu canh chua thì bắt nguyên ổ, vớt kiến bỏ đi, còn lại nước chua lắm”. Ông giải thích như chia sẻ với một người cùng sở thích. Lời nói đó nhẹ nhàng “như thi nhân” bởi nó giống lời thì thào say sưa của đứa trẻ lúc đang chơi. Một thói chơi hồn nhiên như trẻ. Không có gì to lớn hoặc cầu kỳ theo kiểu dân chơi nhà nghề sành điệu đưa lên thành nghệ thuật. Thú chơi của ông khác lắm. Chiều theo thiên nhiên, lặng lẽ và có vẻ gì đó hưởng thụ như một cậu bé con tò mò, tinh quái.

Chẳng có nhiều điều kiện để cầu kỳ, nhưng lại khá “oái ăm” bất ngờ. Ai mà có thể nghĩ ra cái tác dụng nấu canh bằng cái đít chua của bầy kiến! Chắc chắn vợ ông đi chợ chỉ vài ngàn đồng là có đủ rau, thơm, bạc hà, lá giang cho nồi canh chua. Nhưng ông biết hết “tính năng” của các loài vật. Còn oái ăm hơn cả các món ăn: “Viết thơ tình bằng nước xanh chua chua bóp ra từ kiến. Viết bằng bút học sinh. Ông bồ hơ lửa thấy chữ. Cái này đi học được. Khổ vậy kia, cái gì cũng học!” Ông nói như than thở, mà mắt lại ánh vui.

“Chú bé Ẩn” chơi các con vật từ lúc 5 tuổi, chứ không phải kiểu chơi chim chơi thú của những ông già về hưu nhàn rỗi đỡ buồn. Ông có con khướu đã sống 15 năm ở khu vườn nhỏ này. “Sáo, họa mi, năm con sóc còn hai. Nó ở đâu đó đến! Tôi treo thức ăn lên vỏ trái dừa, ngày ngày nó đến ăn rồi lại đi. Đất lành chim đậu là vậy. Sẻ rất nhiều. Súng hơi người ta bắn riết nay không còn. Hai con chích chòe lửa, tôi bắt được ở đây”. “Chị ngồi chờ, để tôi chỉ cách bẫy sẻ này”.

Ông lấy ra hai cục gạch, đặt trên cái bàn uống nước: “Lấy ba cái que lớn lớn tí thôi. Bỏ lúa trong rải vài hột thôi”. Ông say sưa: “Cây trúc cương trực. Sẻ là tiểu nhân láu lia láu lịa, không bao giờ được người ta vẽ đậu trên cành trúc. Sẻ xấu, đa nghi. Gạch đè xuống là ra bắt liền, không nó chết”. Ông hướng dẫn cứ như là tôi cũng hiểu hết, đang muốn học chơi theo. Hình như ông muốn tôi cũng nên biết chơi, vì theo ông “con nít giờ không biết, giảng không hiểu, không biết chơi”. Ông dặn tôi: “Rải một ít ở bên ngoài kẻo nó ăn no không vào ăn phía trong hòn gạch nữa”. Ngày trước thì ông bẫy chích chòe. Bẫy đâu có như bây giờ! Cây tre có cành buộc như cần câu, một đầu cắm xuống đất. Có một cái vòng bằng tre, có cái cò để vô cột con dế. Có thòng lọng, có chỉ rút. Chim vào mổ cào cào, dế. Cái cần cò bật lên siết lấy con chim. Ông lại dặn: “Đừng treo cao quá siết cổ nó chết”. Còn bắt chim én, nó thường bay thấp, ăn ruồi rác. Nó bay sớt qua sớt lại không đậu. Phải để cái vòng có con ruồi ở giữa, chim chui đầu vô, bị giật.

Thì đó, có cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm dò nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… đủ cả. Nhiều khi chúng sống đâu đó, trên phố xá ta nào thấy được. Chỉ ở nơi đâu, có những người như ông Ẩn, chờ đón, xem xét nó, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho nó đến ăn rồi lại đi. Chỉ có kẻ nào hào phóng, không định sở hữu, bắt nhốt chúng, chúng mới tới “sống cùng” trong chốc lát, rồi lại là “người của tự do”. Chúng là những nhân vật đông đúc ở khu vườn nhỏ, khách vào nào có ai biết là chính họ đang làm kinh động nhiều vị “đồng chủ nhân” cùng với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời sống cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống.

Những ký giả phương Tây luôn ngạc nhiên không chỉ vì ông Ẩn là một ký giả xuất sắc, săn tin giỏi, mà còn vì óc hài hước, sự thành thạo nhiều mặt trong đời sống. Trong mảnh sân vườn nhỏ này, có lẽ tôi là nhân vật xa lạ nhất xâm nhập vào đây, mong mỏi được quan sát tìm hiểu về một con người đặc biệt. Đôi khi tôi có cảm giác hình như con chó đá nó đang cười tôi phía sau lưng, mỗi khi ông Ẩn tiễn tôi ra cổng. Dường như cả con kiến ở trong vườn này nó cũng biết rằng tôi không hiểu ông Ẩn bằng nó.

Cũng công bằng thôi, một khi mà với con chim huýt cô sầu ông nuôi nó 8 năm, đi chơi Vũng Tàu cũng mang nó theo. Có cả lồng tắm riêng cho nó. Ông nhìn cái lồng và bảo: “Lồng không sạch vầy ở Úc nó đuổi đó, không cho nuôi chim đâu. Còn nếu khi nào thấy cá lội tung tăng quá thì đừng có tưởng là vui tươi khỏe mạnh. Đó là lúc nước bẩn”.

Những con chim ấy biết sắp được ăn “bít tết” như Tây khi ông cầm sâu tươi và những con rắn liu điu nhỏ xíu ra. Dường như con huýt cô sầu biết ông Ẩn đã hiểu ra lai lịch vì sao nó có cái tên buồn rầu đó: Có đứa con gái nhỏ mồ côi được cô nuôi. Khi cô chết, nó ra mả khóc không ăn uống đến chết biến thành con chim huýt cô sầu. Cái sự tích chuyện đời con hoàng anh cũng được ông Ẩn kể: Cô nương kia chờ chồng chinh chiến. Chờ đến kiệt sức thì chim bay về báo tin cô ráng sống vì chồng sắp về. Cô ráng sống, được gặp chồng là nhờ chim hoàng anh.

Ông còn bình luận vui: Nhà nào mà có con gái, lại trồng cây liễu rủ buồn, thêm con chim huýt cô sầu nữa thì con gái đến là tự tử thôi. Phải cấm con gái trồng liễu và nuôi chim huýt cô. Thêm ông nội này kêu thì chết con nhà người ta.

Nguyễn Thị Ngọc Hải

Tuoitre

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn Kỳ 3: Những con vật dẫn đường

Trong kỳ này chúng tôi xin giới thiệu đến cho bạn kỳ 3 về điệp viên hoàn hảo Phạm Xuân Ẩn: Những con vật dẫn đường.

Theo ông, trong nhà phải nuôi ba con vật: Con chó trung thành, “con có thể chê cha mẹ khó chứ chó không bao giờ chê chủ nghèo”. Con chim thì nhảy hoài. Nó tiêu biểu cho sự bận rộn làm việc suốt ngày, không làm biếng. Còn con cá thì dạy sự khôn ngoan, im lặng, không nói nhiều mà suy tư…

Trong bản thành tích tóm tắt in ra công khai, ở trang “Anh hùng Trần Văn Trung” (tên ông Ẩn) chỉ khoảng 20 dòng: Sinh năm 1927, quê Biên Hòa – Đồng Nai, nhập ngũ tháng 12-1952. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung tá, cán bộ tình báo thuộc Bộ tham mưu Miền, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

pham-xuan-an-1

Từ năm 1952 đến tháng 4-1975 do yêu cầu của nhiệm vụ tình báo, suốt 23 năm cùng ăn, ở, làm việc với địch, Trần Văn Trung vẫn luôn giữ vững lòng trung thành với Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng. Trong công tác, Trần Văn Trung đã khôn khéo, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo bám chắc địa bàn, lập nhiều thành tích xuất sắc. Đồng chí đã cung cấp kịp thời nhiều tài liệu nguyên bản có giá trị lớn. Trần Văn Trung luôn giữ nếp sống giản dị, trong sạch, có ý thức tổ chức, kỷ luật cao. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba, 6 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua.

Năm 1976 ông Ẩn, tức Trần Văn Trung được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhưng cuộc đời và cuộc chiến đấu mấy chục năm của ông chắc chắn phong phú, đầy sự kiện, đã không được công bố cho báo giới hoặc in ra trên các phương tiện in ấn khác.

Những thư báo cáo tin tức về việc Mỹ đang thay dần quân Pháp ở Việt Nam là thời kỳ trước năm 1961. Sau đó là những tài liệu có tính chiến lược để chúng ta có thể nắm vững các kỹ thuật và chiến thuật mới của Mỹ – ngụy. Có những tài liệu mang giá trị cực lớn nêu rõ chiến lược quân sự, bình định theo cách chống nổi dậy được các chuyên gia Mỹ đúc kết kinh nghiệm từ các nước để áp dụng vào Miền Nam. Tài liệu về tổ chức, trang bị, các kế hoạch hành quân và các dự định hoạt động của địch, vừa mang ý nghĩa chiến lược, vừa tổng kết kinh nghiệm hoạt động quân sự và bình định. Đó là những nét khái quát lớn nhất về sự đóng góp của điệp viên Phạm Xuân Ẩn. Những tài liệu cực kỳ quan trọng này được chuyển ra rất sớm, giúp cho quân dân ta tìm được các biện pháp chiến lược chiến thuật đối phó đánh giặc, lập được nhiều chiến công xuất sắc.

Những kế hoạch lập ấp chiến lược, bình định nông thôn, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ… được kịp thời chuyển tới Trung ương, là kết quả của một cuộc phấn đấu, một đời hoạt động khá độc lập của ông tại các cơ quan cao nhất của kẻ địch. Ông đã làm việc, quen thân, ra vào dễ dàng, được lòng tin cậy từ những cơ quan lớn của chính quyền Sài Gòn như cơ quan Trung ương tình báo ngụy, Tổng nha Cảnh sát, An ninh Quân đội, được Phủ Tổng thống mời với tư cách chuyên viên tham gia đánh giá, đọc các tài liệu tối mật, tham gia ý kiến vào việc hoạch định chiến lược quan trọng của chế độ.

Ông đã làm việc cùng với nhân viên của đại tá Edward G. Lansdale, chỉ huy trưởng Phái bộ quân sự Sài Gòn (Saigon Military Mission – phái bộ này hoạt động cả quân sự, tình báo CIA và chính trị), người tổ chức hàng loạt chiến dịch phá hoại chống Việt Cộng. Ông Ẩn là một trong số ít phóng viên Việt Nam được mời dự giao ban quân sự. Đã có thời kỳ ông tư vấn đề cử các sĩ quan tham gia các khóa học huấn luyện ở các trường đào tạo quân sự tại Mỹ. Chính ông là người đã làm thủ tục cho Nguyễn Văn Thiệu đến Hoa Kỳ lần đầu tiên tham gia khóa học chỉ huy và tham mưu tại Leavenworth. Đám chỉ huy hành quân Mỹ còn cho phép ông lên trực thăng HU.1A đi theo hành quân sát trận địa, chiến trường, đến các phòng thuyết trình tình hình xem những bản đồ chiến sự mới nhất.

Nhưng có phải tất cả những thành công trên đây là do ông Ẩn là phóng viên chiến tranh của tờ báo Time lớn nhất nước Mỹ? Ở vị trí đó nên ông được sự thân thiết của giới cầm quyền cao nhất như Ngô Đình Cẩn ở Huế, Trần Kim Tuyến, Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí và rất nhiều dân biểu, bộ trưởng Phạm Kim Ngọc, giám đốc chiến tranh tâm lý Nguyễn Hữu Có, Cao Văn Viên, Lam Sơn?… Có phải tất cả các nhà báo đều có thể dễ dàng tạo dựng những mối quan hệ như vậy? – Mối quan hệ thân tới mức “lại nhà chơi cũng được”…

Có lần Trần Kim Tuyến yêu cầu ông đứng ra làm chủ bút một tờ báo, lời ăn, lỗ thì bác sĩ Tuyến chịu. Nhưng ông Ẩn đâu có tham vọng làm chủ báo, đâu có mục đích làm giàu. Đã có lần Ẩn phỏng vấn Ngô Đình Cẩn sau vụ đảo chính hụt về việc chính Cẩn đã phát hiện âm mưu đảo chính. Đã có báo cáo lên nhưng bị vứt vào sọt rác. “Thưa ôn nếu ôn chịu, con viết chi tiết đó cho Reuters”. – Ẩn thăm dò. Ngô Đình Cẩn phải bảo thôi đừng đăng: “Mi phỏng vấn tao thiếu nước lạy. Mồm ác lắm!” Ông Ẩn có một người anh họ làm giám đốc Cảnh sát Công an Trung phần. Biết Cẩn thích chơi chim, ông anh thấy Ẩn có con chim loan liền bảo: “Mi cho tao để biếu ôn”. Ẩn có cái ống nhòm, anh cũng xin “Cho anh biếu ông Cậu để ổng đi câu cá”. “Câu cá, hay là để dòm các cô?” “Cái miệng mi ra Huế chết tao”.

Sinh hoạt thời kỳ ấy có những chuyện vui bên lề. Phủ Tổng thống thấy Ngô Đình Diệm thích có người Nam mà biết Huế, biết Bắc, nói chuyện thẳng thắn và vui, họ muốn chọn Ẩn vì Ẩn đủ “tiêu chuẩn”. Diệm thích trò chuyện với những tay thẳng thắn, lại thích cây cối. Một lần Diệm xuống Vĩnh Long thăm ông anh là Ngô Đình Thục làm đức cha ở dưới miền Tây. Ngô Đình Diệm thích cây cối. Đi dọc đường, ông ta ưa thích nhìn mạ xanh bên ruộng hai bên đường thẳng cánh cò bay. Ông luôn mồm rủa những kẻ đang tâm chặt cây cối về làm cây Noel. Đang nhìn chiếc cổng làng phía xa có cây cổ thụ, dưới gốc cây nhiều nông dân đang nghỉ ăn trưa, Diệm thính lắm bèn hỏi: “Cây chi rứa mi?” Người lái xe cự lại: “Cây chi cụ nhìn cụ biết chứ, con đang chạy xe 100km/giờ sao dám nhìn cây! Tính mạng cụ nằm trong tay con đây nè”. Sau lần đi ấy, Diệm thường than mắng các cấp dưới chỉ biết a dua nịnh bợ ông mà chẳng ai thật lòng. Có người bộ trưởng vào tiếp kiến vâng, dạ lễ độ, lúc đi ra không dám quay lưng đi tử tế, lại đi giật lùi, chẳng may đụng phải đôn chậu cây vấp ngã, Diệm khoái trá cười: “Chỉ quen a dua nịnh bợ, các ông không thương tôi bằng người Sốp – phơ”.

Có lần ở sát biên giới Miên có tranh chấp. Thiếu tướng Becna Trần Tử Oai làm Tư lệnh vùng 4 sát biên giới, Ngô Trọng Hiếu lúc đó làm đại sứ, bị Xihanúc phiền trách. Diệm kiếm chuyên gia về Campuchia để hỏi ý kiến tìm cách giải quyết tình hình căng thẳng, liền xuống Cần Thơ tìm Tư lệnh vùng 3. “Cụ kêu lên” – viên tướng cấp tốc lên gặp, chào kiểu nhà binh cái rốp. “Tư lệnh vùng phải không?” “Dạ phải.” “Ở biên giới có tranh chấp, cho ý kiến giải quyết thế nào?” “Mật lắm Cụ ạ”. “Nói đi. Mật hoài.” “Phải rồi, cái này mật. Cụ cho con một ngày đi, một ngày về, tổng cộng khoảng 5 ngày con giải quyết xong”. “Năm ngày là sao?”, “Con hành quân đến Phompenh đánh một ngày”. “Đâu có được. Tưởng có mưu gì ngoại giao”. “Con quân sự chỉ có hành quân thôi. Quân sự là thế. Con nói Cụ rồi, mật lắm!”. Diệm khoái những người như “Oai” và nói thẳng như thế, có khi dám phản ứng theo cách của mình. Vì vậy người ta nhắm “chắc thằng Ẩn” đủ tiêu chuẩn để trò chuyện với Cụ. Nhưng cũng có người phát hiện “Nó ẩu lắm. Nó dám dắt ông Cụ đi dancing thì lộ hết mặt đám quan chức ăn chơi đi dancing tối ngày”. Ai chứ Ẩn thì dám dắt ông Diệm đi chơi đêm bất tử, lòi ra các bộ trưởng nhảy đầm!

Một dịp Tết, Ẩn lại chơi nhà Trần Kim Tuyến. Có mấy vị bộ trưởng mới tới chào Tuyến, Ẩn liền lại nói chuyện với bà vợ Tuyến. Thấy nhà họ được biếu quá nhiều hoa thủy tiên, Ẩn miệng nói, tay bốc: “Xài không hết. Tôi không có”. Vị bộ trưởng lấy làm lạ hỏi “Thằng nào hỗn vậy?” “À, anh Ẩn nhà báo thân đó mà” – bà Tuyến cười giải thích.

Ông Ẩn được nhiều quyền đặc biệt không chỉ do nghề nghiệp mà là do quan hệ rộng. Ông đi lại có cả giấy của an ninh Phủ Tổng thống, có súng. Ông lái xe đi Buôn Mê Thuột khi cần. Cùng với các nhà báo nước ngoài, Ẩn đi cả vĩ tuyến 17. Đi tham quan khu trù mật thì bằng xe của Phủ Tổng thống. Ẩn có chiếc xe riêng, xe taxi nhỏ hiệu Renault dùng suốt từ năm 1960 tới khi miền Nam giải phóng.

Người ta đã quen chiếc xe nhỏ của tay ký giả chuyên viết chiến sự, đi khắp nơi, tự lái và luôn chở con chó đi cùng. Ông nuôi bécgiê giống quý. Con bécgiê mua từ Đức cũng nổi tiếng vào hàng số một Sài Gòn lúc đó với giá 30 cây vàng. Những đêm ông làm báo cáo bí mật con chó nằm dưới chân. Nếu có động tĩnh gì, con chó thính lắm. Cảnh sát đi khám sổ gia đình (hộ khẩu) ban đêm giờ giới nghiêm ngoài đường cách gần cây số nó nằm yên nghe, lấy chân khều khều báo cho chủ. Ban đêm khi ông chụp lại các tài liệu, bản đồ dưới ánh đèn 500 watt che kín, nếu có tiếng chó sủa tức là có ai đó đi bên ngoài.

Sau này ông bán con chó đó để mua con khác từ Mỹ đem qua. Nó cũng tinh tường một cách đặc biệt. Những đêm Mỹ đem máy bay B.52 rải bom ở xa tận ngoài chiến khu, đất rền rung rất nhẹ nó đã sủa khi chưa ai cảm thấy. Mãi sau khi nghe nó sủa rồi, cố để ý mới thấy cửa rung. Con chó thường ngồi sau xe. “Có lần tôi trao đồ cho người liên lạc, bà khựng lại sợ quá vì thấy con chó”. Khi ông vào nhà hàng (ông thường vào các nhà hàng Brô-đa, Givràl, Continental… nơi tập trung giới báo chí, các quan chức, dân biểu) con chó được lệnh ngồi chờ ở ngoài xe. Nó có thể tuân lệnh ngồi yên như thế chờ đến một, hai tiếng tới khi ông chủ ra. Nếu được vào nhà hàng, nó chui nằm yên dưới bàn.

Hẳn là nó quá ấn tượng với đám bạn làm báo hồi đó. Đến nỗi nhiều năm sau này khi Sài Gòn giải phóng, họ trở lại thăm ông Ẩn, làm các cuộc phỏng vấn, như ta đã thấy trong miêu tả của họ, bao giờ bên ông Ẩn cũng có hình ảnh con vật thân thiết của ông. Morley đã tả lại kỷ niệm cũ khi tiếp xúc với Ẩn ngày xưa ở nhà hàng, cái mõm đen của con chó thò ra khỏi gầm bàn im lặng khi chủ của nó đang nói cười. Và hình ảnh gặp lại ông Ẩn ở Sài Gòn sau hàng chục năm cũng có “Ẩn và những con chó thân yêu của anh ta”. Kết thúc bài viết, cũng là “Ẩn giơ cánh tay xương dài vẫy vẫy từ biệt cùng với tiếng chó sủa theo chúng tôi ra ngoài con lộ”.

Ngày Tết, đám bạn bè và quan chức thường mừng rỡ nếu thấy chàng ký giả vốn “rất Mỹ” này lại khăn đóng áo dài dẫn bécgiê đến chúc Tết. “Ông nội này láo” – đám bạn bè trêu chọc bình luận. Nhưng Ẩn bảo: “Không đi với vợ mà đem chó bécgiê theo là hên”. Con chó cũng giúp Ẩn mở quan hệ thân thiết. Ông thân với Đỗ Cao Trí (tướng nắm Vùng 3 chiến thuật, vùng Sài Gòn và Đông Nam Bộ), cũng qua con chó. “Chả khoái bécgiê, đi chợ chó luôn. Cố vấn Mỹ mua cho chả 3 con: hai đực, một cái, nhưng đẻ con ra không đẹp. Ổng xin giống từ con chó của tôi. Nó nhảy, đẻ con rất đẹp. Ông nào thích thì cho giống với giá 100 đô một lần nhảy. Có khi tôi đem chó con đến biếu những người giúp đỡ mình. Họ mừng lắm”.

Lansdale phụ trách Phái bộ quân sự Sài Gòn, trong đó có hoạt động của CIA, cũng nuôi một con chó. Ông ta nhìn phản ứng của chó để dò xét người khác. Lansdale cho rằng người không có tà tâm thì chó của y nằm yên lặng. Người nào con chó nó dòm chừng thì có vấn đề gian dối tà tâm gì đó. Theo ông ta: “Con chó nó đánh giá được”. Có lần ông Ẩn bảo: “Mỗi lần tiếp tôi, anh để chó ớn lắm”. “Anh nuôi chó mà lại ớn chó sao? Nó giúp canh chừng, nó dòm cảm tình thì tâm địa tốt.” Lansdale lại giải thích. Ông Ẩn bảo: Đâu có nhất nhất như vậy. Có con nhạy có con không, sủa tầm bậy vu vơ. Chẳng có sách nào dạy cái “đồ” này.

Bây giờ ông Ẩn vẫn nhận xét thế. Nhưng theo ông, trong nhà phải nuôi ba con vật: con chó trung thành, “con có thể chê cha mẹ khó chứ chó không bao giờ chê chủ nghèo”. Con chim thì nhảy hoài. Nó tiêu biểu cho sự bận rộn làm việc suốt ngày, không làm biếng. Còn con cá thì dạy sự khôn ngoan, im lặng, không nói nhiều mà suy tư. Ông còn đùa: không nên làm nghề xuất nhập khẩu. Bệnh do khẩu nhập họa do khẩu xuất mà!

“Bệnh ăn bệnh nói dễ vô tù”.

Tuoitre.vn

Điệp viên hoàn hảo Phạm Xuân Ẩn Kỳ 2: Im lặng là nguyên tắc sống

Từ con người cho đến tính cách của ông vẫn luôn luôn là một ẩn số – Điệp viên hoàn hảo Phạm Xuân Ẩn

Tôi muốn tìm ra cái chất “Người Việt trầm lặng”. Tôi muốn mọi người Việt Nam được đón lấy những gì dịu dàng nhất, can đảm nhất, yêu thương tươi cười nhất, từ cuộc đời của một con người cao gầy, mỏng manh như cây sậy…

Ấy là vài nét hé lộ tính cách ông Phạm Xuân Ẩn. Cũng mới chỉ là lời của Peter Ross Range, của Morley Safer, hay là sau này Henry Kamm trong cuốn Dragon Ascending xuất bản năm 1996. Có vẻ như giới viết lách của Mỹ quan tâm đến ông nhiều hơn. Do trước đây họ đã làm việc với ông? Henry Kamm trong chương Heroes of war and peace đã nói rằng mình biết Ẩn đã một phần tư thế kỷ. Vậy mà Henry “không một phút giây nào tôi ngờ rằng trong suốt cuộc chiến tranh ông là đại tá của Mặt trận giải phóng dân tộc mà kẻ thù của họ gọi là Việt Cộng. Tôi biết ông là một đồng nghiệp hào phóng, hiểu biết và hóm hỉnh”. Henry đã đánh giá cao hơn nữa: “Tướng Ẩn – một trong những nhân viên tình báo Cộng sản bí mật gan dạ nhất ở Sài Gòn trong suốt cuộc chiến tranh chống Hoa Kỳ…” .

Trong cuộc nói chuyện với các đồng nghiệp cũ khi họ trở lại Việt Nam sau này, ông Ẩn quan tâm thăm hỏi tin tức của các đồng nghiệp cũ như Frank Mc.Culloch, giám đốc văn phòng tuần báo Time tại Sài Gòn, Richard M. Clurman, trưởng ban phóng viên cho Time – life có văn phòng tại New York. Những người Mỹ đã biết ông Ẩn tới một phần tư thế kỷ mà vẫn còn nhiều bất ngờ về ông. Sau nữa, chắc gì họ đã hiểu ông Ẩn như họ thường cho là họ hiểu. Như Morley chẳng hạn. Morley viết: “Tội nghiệp cho Ẩn. Anh đã chọn chỗ đứng giữa vùng đất không người, tùy thuộc vào sự hình thành của lực lượng thứ ba. Chẳng có chỗ đứng nào cho một tâm hồn nhạy cảm như anh…”. Mặc dù Morley cũng nhận ra rằng do ý nghĩa lịch sử, chỉ có một chỗ đứng như ông Ẩn đã đứng, dành cho những tâm hồn nhạy cảm. Nếu hiểu theo cách người Việt nghĩ thì do đất nước gặp ngoại xâm, tất cả những tâm hồn yêu nước, nhạy cảm, chỉ có một chỗ đứng giống nhau như vậy thôi, chỗ đứng trong đội quân những người cứu nước. Morley còn cho rằng nếu Graham Greene nhìn Việt Nam theo một cách nào đó, ông có thể viết cuốn tiểu tuyết Người Việt Nam trầm lặng với Phạm Xuân Ẩn là nhân vật mẫu.

pham-xuan-an

Rõ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết. Nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ được “những chớp đèn flash” những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông theo những sự kiện lịch sử lớn lao. Chưa ai có được tấm chân dung hay “bản hồ sơ về tâm hồn” với tính cách điển hình Việt Nam. Các thành tích của ông đã khắc ghi bằng danh hiệu Anh hùng cao quý do nhà nước tặng. Nhưng điều gì, hoàn cảnh nào đã tạo nên một người Việt đặc sắc như thế?

Đó là nỗi niềm mong ước của tôi, khi lưỡng lự bấm chuông một ngôi biệt thự ở vào vị trí rất đẹp nhưng chỉ vào hạng xoàng trên đường Lý Chính Thắng, Sài Gòn. Tôi không thể đủ điều kiện viết về ông theo cách chuẩn xác của những điệp vụ. Càng không muốn liệt kê theo các bản khai lý lịch đơn thuần. Tôi muốn tìm ra cái chất “Người Việt trầm lặng” mà Morley hình dung, hoặc là chất honor trong cuộc đời ông mà Peter Ross Range đề nghị. Nhưng sau hết, tôi muốn mọi người Việt Nam được đón lấy những gì dịu dàng nhất, can đảm nhất, yêu thương tươi cười nhất, từ cuộc đời của một con người cao gầy, mỏng manh như cây sậy. Sức mạnh của con người ấy được lấy từ mỏ năng lượng quý báu và thần diệu nào đã ban cho? Nếu như bạn đọc nào ao ước cùng tôi điều đó thì hãy đọc cuốn sách này. Nó là một phần chân dung để chúng ta tự hiểu, hình ảnh người Việt cao quý giống như chúng ta đang vẽ ra bản đồ của một tâm hồn. Một việc thật khó làm!

Được gặp ông, nếu như có hình ảnh nào có thể liên tưởng từ cuốn sách của Morley thì đó là cái dáng ông Ẩn lòng khòng nay gầy thêm và khô đét. Tôi để ý xem có đúng là ông mang cặp kính dày cộp trông giống trí thức gia thường gặp nơi các quán café quanh khu đại học Sorbonne không, nhưng tất nhiên là không hình dung ra, bởi tôi chưa hề đến Pháp. Ông có thói quen gỡ kính ra khi nói và đeo vào khi lắng nghe không? Tôi cũng cố hình dung ra cái góc bàn nơi Morley ngồi và đã mô tả từ chiếc máy chữ xách tay cũ kỹ hiệu Oliveti để nơi góc bàn. Ông không có điếu thuốc Lucky Strike kẹp giữa những ngón tay xương. Trên mặt bàn thấp giữa sofa và hai ghế ngồi, ông cũng không bày các ly với chai Whisky White Horse và xô nước đá như khi tiếp Morley.

Nhưng nhận xét của Morley khi nói rằng: “Anh ta nói chuyện duyên dáng thoải mái với phong cách của một thi nhân” thì vẫn luôn luôn đúng. Chính ở căn nhà này, ông Ẩn đã cùng hai con chó quấn quýt dưới chân để đưa tiễn Morley ra xe. Morley cũng nói rằng Ẩn đã sống những cuộc sống rất đặc biệt, tại sao không viết ra. Đó sẽ là cuốn sách rất hấp dẫn, và cũng là cuốn sách quan trọng nữa. Ông Ẩn trả lời: “Trong những năm tôi làm phóng viên, không ai bảo tôi phải làm gì ở hãng thông tấn Reuters hoặc Time. Tôi đã quá già để học thêm những luật lệ mới rằng điều gì cho viết điều gì không. Tôi e rằng những ngày làm phóng viên của tôi đã qua rồi”.

Không biết tới hôm nay, những năm cuối cùng của thế kỷ 20 này, liệu lời từ chối ấy của ông có lặp lại, và tôi sẽ thất bại hay không. Điều này khiến tôi thật sự lo lắng khi đã ngồi ở bộ sofa, chuẩn bị cuộc trao đổi. Đôi bàn tay xương của ông rót nước trà. Cái bình trà cũng ngộ nghĩnh: ở gần vòi của bình, có đeo một chiếc rổ nhỏ xíu bằng kim loại, làm nhiệm vụ giữ lại những sợi bã chè nhỏ theo dòng nước chảy xuống, không cho chúng rơi vào tách trà mời khách.

Tất nhiên là ông lại từ chối việc viết sách. Đã từ lâu ông ít bộc lộ mình với giới báo chí. Nhưng ông không nói rằng do cái gì là luật lệ kiềm chế hay không. Ông nói như giải thích để mong nhận được sự thấu hiểu:

– Nghề tôi có hai cái kỵ: Nếu bị bắt, không trốn được (nếu trốn được thì tốt), nhưng nếu không sống được thì phải kể là chết. Cái cần giữ không phải xác anh. Xác anh kể là chết, nhưng không được tiết lộ nguồn tin. Không khai báo đã đành, ngay khi những gì địch đã biết, anh có thể nhận, nhưng tuyệt đối phải bảo vệ người cung cấp tin. Thứ hai là cái gì lấy được rồi, giấu tuyệt đối.

– Như vậy thì không bao giờ nhân dân, người đọc rộng rãi biết được cụ thể chiến công của anh là gì và làm thế nào anh có được nguồn tin tình báo?

– Đúng vậy.

– Ngay cả khi cuộc chiến tranh qua đi đã mấy chục năm, nhiều tư liệu, nhiều sự thật rắc rối bí ẩn cũng đã được đưa ra ánh sáng, lên báo chí và phim ảnh?

Ông quay ra than phiền rằng trước đây có một nhà báo được ưu tiên tiếp xúc tài liệu và ông đã ra sức can thiệp để không đưa lên công khai, nhưng cuối cùng ngăn không được. Đấy là một sự kiện khiến ông phiền lòng nhất.

– Tôi hứa gì, giữ đúng. Bao nhiêu năm sau cũng vậy. Có phải điều gì cũng viết ra hết cả đâu. Cái nghề tình báo nó vậy, đừng ai đụng tới. Những chuyện thất bại, đổ bể mới kể ra. Thế giới, hoặc Mỹ nó cũng vậy. Cái nào êm cho êm luôn.

– Nhưng ở Mỹ người ta cũng viết về những trường hợp tình báo chống Anh. Còn những cuốn Tass được quyền công bố,Hội tam hoàng hoặc Người từ xứ lạnh đến của John Care và cả Người không có mặt của tác giả Đức?

– Thì nói tượng trưng thế thôi. Hoặc như Graham Greene (tác giả Người Mỹ trầm lặng) ông ta là tình báo Anh Thế chiến thứ hai. Daniel Defoe viết Robinson cũng là một tay tình báo giỏi… Thông thường thì ít ai đụng tới viết về những gì tình báo làm. Lâu lâu lòi ra một trường hợp bị đổ bể, người ta mới viết…

Có vẻ như lý lẽ này của ông không được vững cho lắm, dù trong nghề của ông, người ta hành xử như vậy. “Lấy làm nhân vật tiểu thuyết thì nhiều hơn”. Ông Nguyễn Khải có viết hai cuốn tiểu thuyết lấy mẫu từ Phạm Xuân Ẩn, thì ông không lo lắng gì. Tiểu thuyết hư cấu mà. Còn với tay nhà báo mà ông phiền lòng kia, lại viết hết ra những “đồ” mà ông lấy được, kể tỉ mỉ cả những nguồn cung cấp tin…

Nó tai hại ở chỗ nào?

– Thường người viết cứ cho rằng viết ra những tài liệu lịch sử. Nhưng người ta tốt với mình, dù là họ vô tình không biết mà mang lỗi với công việc của họ, tổ chức của họ. Người ta giúp mình những việc nguy hiểm. Sao lại đưa người ta ra?

Thì ra là vậy – Ở đây có nguyên tắc sống, thái độ ứng xử, sự trung thành với con người chứ không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật. Ông giữ nguyên tắc sống này cho vĩnh viễn. Bảo vệ nguồn tin mãn đời. Đến hôm nay, sau cuộc chiến tranh đã lâu, có cả lứa sinh viên trẻ nghiên cứu khoa học Mỹ sang Việt Nam, ngay đó là con trai một thống đốc bang sang liên hệ tài liệu để làm luận án, ông cũng từ chối ngay.

“Mình xài đồ. Nếu nay dù họ có chết đi rồi, cũng không nên nói họ ra. Mình viết ra, con người ta lại trách con mình sao? Lối cư xử Á Đông, ông bà mình dạy, không thể xong việc mình rồi thì mặc kệ việc người”. Rõ ràng ông giữ một nguyên tắc sống, nguyên tắc cư xử của con người được giáo dục về nhân văn rất kỹ. “Có được một người bạn là khó khăn lắm, công phu lắm. Một người quan hệ bao lâu mới thân, bao lâu mới đủ tới mức họ giúp đưa đồ, đâu phải dễ. Có cả những người bạn tốt, tin cậy tới mức đưa máy bay rước tôi lên Buôn Mê Thuột đọc tài liệu. Nay dù chiến tranh đã qua rồi nhưng các thế hệ lãnh đạo của nước Mỹ đều ít nhiều dính vô chiến tranh Việt Nam. Đám đẻ sau Thế chiến thứ hai là dính vô Việt Nam đủ các lĩnh vực. Hội chứng này nặng lắm. Cho nên những mối quan hệ sâu sắc giúp mình làm nhiệm vụ, mình không thể nói người ta ra. Lúc giúp mình, người ta tin rằng đã giúp tài liệu cho một nhà báo để xài tài liệu phân tích hiểu biết thời cuộc. Mình không thể làm hại đến họ bất kể kiểu gì”.

Ông đã nghĩ tới nguyên tắc của nghề, và nguyên tắc sống. Chỉ có hiểu ông điểm này mới biết vì sao ông oán tay nhà báo nọ. Mình kể nguồn tin ra, Mỹ nó sẽ truy người ta liền, dù là chuyện qua đi đã lâu. “Ổng đòi đăng, tôi không chịu mà không can thiệp được. Lệnh trên là phải cung cấp tài liệu cho nhà báo đặc biệt đó để phục vụ công tác chung. Nhưng đăng lên thì không được. Tôi có can thiệp nhờ ông Mười Hương lúc đó, nhưng ông Mười Hương đứt mạch máu não là ông này chơi liền. Thế mới đau…”. Không phải chỉ đau về nguyên tắc sống giữ gìn sự trong sạch của nghề, một lý do ông không muốn nói hết công việc đã làm là: Ông tự nhận “có tật” luôn luôn nhìn tới chứ không nhìn lui. Tương lai của mình là do mình quyết định hiện tại. Cái gì xảy ra đã xảy ra rồi, ngoái lại sau lưng để làm gì. Mình không thể làm thay đổi quá khứ được.

Ông thường nói: “Bệnh người già là hay nói chuyện cũ. Cuộc sống bây giờ lại găng lắm. Ngày xưa cá nhận xuồng, nhắc vô kho. Vài con trùn, nhái rê rê là có cá ăn. Nay đấu kinh tế thị trường dữ lắm. Người già sống buồn thất nghiệp, tụi trẻ ưa nói cái mới. Kể chuyện mình cũ xì tụi trẻ nó không thích đọc đâu”.

Ông đùa hay ông nói nghiêm chỉnh? Tôi tự hỏi: Có thể nào tụi trẻ nó không thích nghe những chuyện như cuộc đời ông Ẩn?

Tuoitre

Hội An xưa – Kỳ 3: Lá đơn hơn 80 năm trước

Hội An – Địa danh nổi tiếng thu hút nhiều khách du lịch ngày nay. Tuy nhiên, liệu có nhiều người biết đến “truyền thuyết – cổ xử của chúng hay không ?” Trong kỳ 3 này chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu về : Lá đơn hơn 80 năm trước.
Nơi tìm thấy lá đơn của ông Huỳnh Cẩm Thành
Nơi tìm thấy lá đơn của ông Huỳnh Cẩm Thành

Đơn ngắn, viết bằng tiếng Pháp đề ngày 26.7.1932: “Kính thưa quan Công sứ. Tôi ký tên dưới đây Huỳnh Cẩm Thành, buôn bán ở Faifo, rất trân trọng kính xin quan vui lòng cho phép tôi được sửa chữa một đôi chỗ lặt vặt trên mái ngói và gạch lót trong nhà tọa lạc trên đường cầu Nhật Bổn số hiệu nhà 185”. Chỉ 4 ngày sau, viên chủ sự công chánh phê đồng ý, quan Công sứ cũng ký cho phép “làm theo chuẩn chấp trên đây” ngay hôm ấy. Cẩn thận hơn, đến ngày 2.8 lại thấy có viên chủ sự cảnh sát tiếp tục ký tên đóng dấu.

Chúng tôi lần tìm địa chỉ “185 đường cầu Nhật Bổn”. Tên cũ không còn sau 3 lần thay đổi sang các đường Cường Để, Nguyễn Văn Trỗi rồi Trần Phú. Nhà số 42 Trần Phú, nơi các nhóm sưu tầm tư liệu văn hóa dân gian bắt gặp lá đơn viết năm 1932, cũng đã qua vài đời chủ. Chỉ biết cụ Bửu Phất, một họa viên đạc điền làm việc tại Ty Công chánh Hội An, mua của chủ cũ họ Huỳnh hồi năm 1954. Cũng năm đó, vợ chồng cụ Bửu Phất sinh đứa con út Vĩnh Hoàng. Chính người con út thuộc thế hệ thứ 5 hoàng tộc nhà Nguyễn này hiện đang quản lý ngôi nhà, còn chủ cũ họ Huỳnh nghe tin đã sang Mỹ định cư và qua đời.

Chẳng rõ chủ cũ họ Huỳnh kia có mối liên hệ nào với ông Huỳnh Cẩm Thành, người ký dưới lá đơn năm 1932. Cũng khó biết đích xác liệu nhà số 42 Trần Phú bây giờ có đúng nhà số 185 đường Nhật Bổn ngày trước. Người viết chỉ nương theo câu chuyện cũ để thử xem, liệu sau này những người liên đới đến ngôi nhà có lá đơn “xin sửa lặt vặt” kia ứng xử ra sao với di tích.

Ông Vĩnh Hoàng nghe mẹ kể lại, khi dọn về nhà mới gia đình ông tốn hết 15 cây vàng để chỉnh trang và phát hiện lu tiền cổ trong vách phía sau. “Còn chuyện sửa nhà ấy à? Phải xin phép kỹ. Như hồi làm lại phần lầu phía sau, hay sửa mấy viên ngói bị bão thổi bay cuối năm ngoái… tôi đều có đơn xin đàng hoàng. Riêng năm 2011 tôi thiết kế lại gian trước để mở tiệm bán hàng da, muốn ốp gỗ lên tường chống ẩm nhưng khi làm gần xong lại phải dừng. Đội quy tắc đô thị bảo chỉ được ráp kệ gỗ”, ông Vĩnh Hoàng nói.

Mấy trăm năm nghiêm cẩn

Tòa Công sứ Pháp, nơi Bảo tàng Hội An tọa lạc bây giờ, cách không xa đường cầu Nhật Bổn cũ. Lá đơn soạn cẩn thận dù chỉ để “sửa lặt vặt” cùng với tiến độ xử lý đơn thư nhanh chóng… đã khiến giới nghiên cứu đặt vấn đề tìm hiểu ý thức thị dân ở phố Hội. Những tư liệu từ thời phong kiến cho thấy thời nhà Nguyễn chuyện quản lý đô thị đã hết sức nghiêm cẩn. Văn bản viết bằng chữ Hán năm Khải Định thứ 6 vừa sưu tầm được còn cho thấy người xưa thuê nhà cũng phải làm đơn từ sòng phẳng. “Nay chúng tôi xin thuê mướn lại để ở trong phố này, hạn trong một năm… đến sang năm vào ngày đầu tháng 2 thì chúng tôi phải dời đi giao phố này cho chủ mua nhận lại không được có lời trái lẽ nào, sợ nói miệng vô bằng nên lập tờ này lưu chiếu”, giấy thuê nhà của hai ông Lý Hòa, Lý Nhã viết.

Không kể đâu xa, thời chính quyền VNCH trước năm 1975, giấy phép xây nhà tại Hội An phải công bố công khai và cử cảnh sát phụ trách lĩnh vực theo dõi chặt, nếu sai sót sẽ xử nghiêm. Sau năm 1975, cả Hội An trở thành khu phố dệt, nhà nào cũng có khung cửi nhưng không vì thế mà người dân phá bỏ cột, vứt hoành phi câu đối để mở rộng không gian mưu sinh… Qua giai đoạn vắng vẻ của một “thị xã dưỡng già”, đến khi mở hội thảo quốc gia (năm 1985) và hội thảo quốc tế (năm 1990), giá trị của phố cổ Hội An ngày càng lộ diện, nhất là từ khi UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới (năm 1999).

Cũng từng trải qua những quyết định quản lý khó khăn, những vụ sửa nhà cổ biến tướng, nhưng vì sao Hội An vẫn âm thầm giữ phố? Không kể những chủ trương sát hợp để chủ nhà cổ có thể sống được với di tích, thì ý thức của cộng đồng dân cư cũng rất đặc biệt. Họ chưa giây phút nào quên mình đang bảo vệ di sản thiêng liêng của tổ tiên.

Không cho xâm hại di tích

Năm 1979, khi Trung Quốc tấn công ở biên giới phía bắc, có dư luận yêu cầu vứt tượng thần Phục Ba (thần chắn sóng, giúp thương nhân vượt thoát nguy hiểm theo tín ngưỡng người Hoa) thờ ở chùa m Bổn. Khi tiếp nhận ý kiến này, lãnh đạo Hội An báo cáo ông Hồ Nghinh, Bí thư Tỉnh ủy. Quyết định cuối cùng đưa ra: không được phép phá bỏ. Một vị lãnh đạo TP.Hội An bình luận, việc nghiêm cấm xâm hại di tích hồi đó là do ý thức cao về giá trị di sản của địa phương và cộng đồng người dân, chứ không phải đơn thuần chỉ bảo vệ để hướng đến “danh hiệu” nào đó của Hội An sau này.

Hứa Xuyên Huỳnh

Những con đường, phố cũ Đà Lạt xưa

Đà lạt – thành phố hoa có vẻ đẹp nổi tiếng từ những buổi đầu sơ khai. Nơi đây đươc bác sĩ Yersin khám phá khi còn là một vùng đất hoang sơ, cư dân thưa thớt. Vậy hôm nay hay cùng tìm hiểu về Đà lạt xưa – những con đường, phố cũ.
Nữ sinh Trường Trung học Bùi Thị Xuân - Đà Lạt những năm 60 thế kỷ XX
Nữ sinh Trường Trung học Bùi Thị Xuân – Đà Lạt những năm 60 thế kỷ XX
Nơi hội tụ cư dân của các vùng miền
Năm 1906, sau khi được chọn để xây dựng thành trung tâm nghỉ dưỡng, Đà Lạt đã thực sự trở thành một vùng đất mới, là nơi hội tụ cư dân của các vùng miền. Cư dân người Kinh ở Đà Lạt lúc bấy giờ phần lớn là những người lao động nghèo ở miền Bắc, miền Trung di dân tự do hoặc những người đi phu phen, tạp dịch rồi tự nguyện ở lại lập nghiệp. Về sau những năm 1937-1938, để đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị, cũng như nhu cầu của người dân nơi đây, người Pháp và chính quyền sở tại đã cho di dân ở một số địa phương từ miền Bắc, miền Trung như Hà Đông, Nghệ – Tĩnh vào Đà Lạt định cư nhằm sản xuất rau, hoa cung cấp cho thành phố. Đến giai đoạn sau còn có nhiều cư dân ở các vùng Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi cũng vào đây lập nghiệp.
Những Ấp đầu tiên
Những cư dân người Kinh khi mới tới đây họ thường tập trung theo nhóm quê hương để lập ấp sinh sống. Giai đoạn này Đà Lạt đã lần lượt ra đời các ấp như:
Ấp Hà Đông được thành lập vào năm 1938 do sáng kiến của các quan chức triều Nguyễn thời bấy giờ là ông Hoàng Trọng Phu – Tổng đốc Hà Đông, Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ; ông Trần Văn Lý – Quản đạo thành phố Đà Lạt, Tổng đốc Lâm Đồng – Bình Ninh (Lâm Đồng, Đồng Nai Thượng, Bình Thuận, Ninh Thuận) và ông Lê Văn Định – Thượng canh nông tỉnh Hà Đông, sau làm Chánh án Tòa án hỗn hợp Đà Lạt.
Những cư dân đầu tiên của ấp Hà Đông là những người nông dân thạo nghề làm vườn ở các làng Quảng Bá, Nghi Tàm, Tây Tựu, Ngọc Hà, Xuân Tảo, Vạn Phúc… thuộc tỉnh Hà Đông đến Đà Lạt, trồng rau và lập ấp vào năm 1938. Về sau còn có một số người Quảng Ngãi đến làm thuê và ở lại ấp lập nghiệp.
Ấp Nghệ Tĩnh do những người quê ở Nghệ An, Hà Tĩnh vào lập nghiệp và lập ấp vào năm 1940. Đa số dân trong ấp là những người lao động nghèo và có một số là những người yêu nước bị địch khủng bố ở quê nhà nên đã cùng gia đình vào đây sinh sống. Một số khác được người có chức sắc trong chính quyền (ông Nguyễn Khắc Hòe) tuyển mộ ở quê đưa vào. Thời gian đầu họ đi làm thuê trong các công sở, chiều về vỡ đất khai hoang trồng thêm rau, sau đó dần dần chuyển sang nghề làm vườn. Sản phẩm chủ yếu là atiso và một số loại rau ôn đới.
Ấp Ánh Sáng là nơi tụ cư của những cư dân vùng Thừa Thiên – Huế. Ban đầu chỉ có khoảng năm đến sáu hộ gia đình người làng Kế Môn, Phước Yên sống trong những chòi lá đơn sơ cất tạm bên cạnh những mảnh vườn mấp mô vừa được khai hoang để trồng rau. Về sau với sự cần mẫn, chịu thương chịu khó của mình người dân đã san lấp, bồi đắp các hố sâu để mở rộng trở thành vườn rau mới. Đến năm 1952 thì ấp Ánh Sáng chính thức được thành lập với những vườn rau ven suối và những dãy nhà được xây dựng theo quy hoạch.
Ấp Thánh Mẫu ra đời năm 1955 với khoảng 400 giáo dân thiên chúa thuộc huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh). Khu đất này do bà con mua lại của Sở Canh Nông để lập ấp trồng các cây lương thực như: khoai, bắp sau đó chuyển sang trồng rau.
 Đến những năm 50-60 của thế kỷ XX, Đà Lạt đã trở nên đông đúc với nhiều ấp mới tiếp tục ra đời như: Đa Phú, Tùng Lâm, Đa Thành, Trung Bắc, Nam Thiên, Xuân An, SI JEAN, Tân Lạc, Đa thiện, Cô Giang, Hồng Lạc, Đa Lợi, Thái Phiên, Tây Hồ và các khu Lam Sơn, Chi Lăng, Trại Mát…
Cùng điểm danh qua những đường phố xưa ở đà lạt
Qua thời gian cùng với những biến cố thăng trầm của lịch sử, tên các con đường ở Đà Lạt xưa cũng có nhiều thay đổi. Đây là tên đường  phố Đà Lạt trước năm 1953 và tên ngày nay: MARCHÉ – Khu Hòa Bình; FOCH – Ba Tháng Hai; LAMATINE – Bà Huyện Thanh Quan; Cầu Quẹo – Phan Đình Phùng; Đồng Khánh – Nguyễn Chí Thanh; PÉTRUS – KÝ – Nam Kỳ Khởi Nghĩa; Minh Mạng – Trương Công Định; Gia Long – Lê Đại Hành; MILICE – Lê Thị Hồng Gấm; Lò Gạch – Hoàng Diệu; THOUARD – Bùi Thị Xuân; Khải Định – Nguyễn Văn Cừ; ANNAM – Nguyễn Văn Trỗi; FRANCE – Lý Tự Trọng; LACLARE – Trần Quốc Toản; Long Mỹ – Thủ Khoa Huân; HELGOUACH – Đoàn Thị Điểm; ABATTOIR – Lê Quý Đôn; PASTEUR – Hai Bà Trưng; VANVOLLEN HOVEN – Phan Bội Châu; PIERRE PAS QUIER – Hồ Tùng Mậu; ADRAN – Hà Huy Tập; HÔPITAL – Hải Thượng; CUNHAC – Bà Triệu; Long – Hồ Tùng Mậu; DARLES – Triệu Việt Vương; PAUL DOUMER – Trần Hưng Đạo; ALBERT SARRAUT – YERSIN; ANKROET – ANKROET; AUGER – ZA GÚT; BABEY – Nguyễn Du; CASSAIGUE – Mai Hắc Đế; BASSE DU CAMLY – Phạm Ngũ Lão; YERSIN – Trần Phú; LACAZE – Thái Học; BELLEVUE – Lam Sơn; BOURGERY – Trần Quang Diệu; CALMETTE – Thi Sách và Ngô Quyền; CANIVERY – Lê Lai; CARRIERES – Đào Duy Từ; CHAMBOUDRY – Lê Hồng Phong; MISSIONE – Nhà Chung; CHASSAING – Trần Bình Trọng; CLÉMENCEAU – Ba Đình; DE LATTRE DE TASSIGNY – Khởi Nghĩa Bắc Sơn; DANKIR – Đan Kia; FERNAND MILLET – Dã Tượng; ROSES – Huỳnh Thúc Kháng; GARE – Nguyễn Trãi; GLAIEULA – Nguyễn Viết Xuân; GLAFFEUIL -Hùng Vương; Hà Văn Ký -Ký Con; HENRI MAITRE -Yết Kiêu; RENÉ ROBIN -Quang Trung và Phan Chu Trinh; JARDIHS – La Sơn Phu Tử; JEAN O’NEILL – Hoàng Văn Thụ; LÉONGARNIS – Phạm Hồng Thái; LOUAT DE BOART – Cô Giang và Phó Đức Chính; MOSSARD – Hàn Thuyên; Nhà Làng – Nguyễn Biểu; PICE – Vạn Kiếp; PRENN (cũ) – Khe Sanh; ROBELIN – Lê Thánh Tôn; ROBINSON – Huyền Trân Công Chúa; ROUNIE – Pasteur; PAGUE – Tô Hiến Thành; Saigon Nais – Yên Thế; SCHERTGUE – Trại Hầm – Hoàng Hoa Thám; SAINT BENOIT – Chi Lăng; PRENN – Ba Tháng Tư.
Qua bao nhiêu năm hình thành và phát triển – từ một địa danh hoang sơ – Đà Lạt đã trở mình mà biến thành một trong những danh lam thắng cảnh nhất tại Việt Nam – Địa điểm mà khiến cho mọi du khách phải trầm trồ.
Theo: Đoàn Bich Ngọ
Nguồn: baolamdong

Lướt qua lịch sử của “địa ngục trần gian” Côn Đảo

Côn Đảo xưa nổi tiếng với biệt danh “địa ngục trần gian” – nhà tù của quân đội Mỹ tra tấn tù nhân, tra tấn các nhà làm cách mạng của Việt Nam. Tuy nhiên theo dòng thời gian con người nơi đây đã biến nơi đây thành một trong những đia điểm du lịch thu hút hàng triệu khách mỗi năm. Hôm nay hãy cùng chúng tôi điểm qua sơ lược lịch sử của địa danh “địa ngục trần gian” nơi đây.

Côn Đảo được biết đến với cái tên Côn Sơn, Côn Lôn, cũng có tên khác theo cách gọi của người Khmer là Koh Tralach, là một quần đảo ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách sông Hậu 45 hải lý và cách TP. Vũng Tàu 97 hải lý.

Côn Đảo cũng được biết đến với cái tên Poulo Condor thể hiện trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp. Đến năm 1977, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định tên gọi chính thức là Côn Đảo, là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, có cùng kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh (106°36′) và cùng vĩ độ với tỉnh Cà Mau (8°36′).

con-dao-xua
Côn Đảo trước năm 1945

 

Theo dòng lịch sử: Côn Đảo nằm ở vị trí thuận lợi trên đường hàng hải nối liền Âu-Á, vì vậy Côn Đảo được người phương Tây biết đến rất sớm:

Năm 1294 đoàn thuyền của nhà thám hiểm người Ý Marco Polo, gồm 14 chiếc trên đường từ Trung Hoa về nước bị một cơn bão nhấn chìm mất 8 chiếc, số còn lại đã dạt vào trú tại Côn Đảo.
Từ thế kỷ 15-thế kỷ 16 có rất nhiều đoàn du hành của châu Âu ghé qua thăm Côn Đảo.
Cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18 các nhà tư bản Anh, Pháp đã bắt đầu để ý đến các nước phương Đông. Nhiều lần các công ty của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt với dụng ý xâm chiếm Côn Đảo.

Năm 1702, năm thứ 12 đời Chúa Nguyễn Phúc Chu, Công ty Đông-Ấn của Anh đổ quân lên Côn Đảo xây dựng pháo đài và cột cờ.
Sau 3 năm, ngày 3 tháng 2 năm 1705 xảy ra cuộc nổi dậy của người Mã Lai Macassar (lính đánh thuê của chính quyền Anh), đoàn quân Anh phải rời bỏ Côn Đảo.
Ngày 28 tháng 11 năm 1783, Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), trong chuyến đem hoàng tử Cảnh và vương ấn của Chúa Nguyễn Ánh về Pháp, tự đứng ra đại diện cho Nguyễn Ánh để ký với Bá tước De Mantmarin, đại diện cho vua Louis XVI của Pháp, Hiệp ước Versailles. Đó là văn kiện đầu tiên của nhà Nguyễn nhượng cho Pháp chủ quyền cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn. Để đổi lại Pháp giúp Nguyễn Ánh 4 tàu chiến, 1200 lính, 200 pháo thủ, 250 người lính Phi để chống lại nhà Tây Sơn.
Tương truyền, trong đợt thứ 3 bị Tây Sơn truy sát Nguyễn Ánh đã trốn ra Côn Lôn. Sống ẩn dật mấy tháng trời ở đây. Vì thế, hiện nay ở đảo Côn Sơn có một ngọn núi cao gọi là núi Chúa; Đền thờ thứ phi của Nguyễn Ánh là Hoàng Phi Yến ở làng An Hải và Miếu Cậu thờ Hoàng tử Cải con của thứ phi Hoàng Phi Yến tại làng Cỏ Ống.

Nhà tù chính trị:
Ngày 1 tháng 2 năm 1862, Bonard ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo, và từ đó biến Côn Lôn thành nơi giam giữ những người tù chính trị Việt Nam với hệ thống chuồng cọp nổi tiếng. Giai đoạn này số tù nhân lên đến 8.000 người. Với chế độ tàn bạo của nhà tù khoảng 20.000 người Việt Nam đã chết và được chôn cất tại Nghĩa trang Hàng Dương.

Nghĩa trang Hàm Dương
Nghĩa trang Hàm Dương

Côn Đảo ngày nay:
Ngày nay Côn Đảo trở thành điểm du lịch lý tưởng cho những ai muốn kham phá vẻ đẹp hoang sơ và tìm hiểu lịch sử của đất nước Việt Nam. Nơi đây, bạn có thể lang thang để cảm nhận sâu sắc về quá khứ và khám phá thế giới đại dượng với dải san hô muôn màu cùng cánh rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phòng phú và hơn hết là để thoát ly cuộc sống ồn ào của đô thị.

Từng là “địa ngục trần gian” là nỗi ám ảnh đối với mọi người dân Việt, nhưng thời gian những con người sáng tạo của dân tộc chúng ta đã nhanh chóng giúp Côn Đảo chuyển mình thành một trong những hòn đảo quyến rũ nhất hành tinh là nơi thu hút mọi khách du lịch trên toàn thế giới. Chắc chắn ngày nay khi bạn đặt chân đến không những được thưởng thức vẻ đẹp nó mà bạn còn được cảm nhận cả “địa ngục” tái hiện trước mặt.

Nguồn: Sưu tầm

Chùm ảnh quý về Hà Nội những năm 1979

Những chiếc xe đạp thời bao cấp vẫn còn đó, khung cảnh người dân đơn sơ giản dị, trẻ em nô đùa không lo nghĩ, đường xá tràn ngập tiếng cười là những hình ảnh Hà Nội 1979. Hãy cùng chúng tôi chiêm ngưỡng bộ ảnh quý này.

pho-trang-tien

Cuộc sống ở Hà Nội những năm 1979 trên hình toát lên vẻ mộc mạc và giản dị với những ngôi nhà cũ kỹ, đường phố đầy xe đạp. ( Đây là hình ảnh Phố Tràng Tiền và Nhà hát Lớn Hà Nội năm 1979 )

dap-xe-dien-tren-pho

Xe đạp tràn ngập trên phố Tràng Tiền. xe-dien-chay  Trẻ em “bám càng” xe điện, xe đạp tràn ngập phố phường, những khu chợ vỉa hè nhộn nhịp… là những hình ảnh đặc sắc ở Hà Nội năm 1979

xe-kim-ma

 

Đường xe điện trên phố Nguyễn Thái Học, phía bên trái là Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

tre-tren-pho

 

Hình ảnh những đứa trẻ nô đùa với nhay tại 1 góc phố

 

hoc-ngoia-ngu

 

 

Bệnh viện Bạch Mai.

hop-cho-buoi-sang

 

Cảnh họp chợ buổi sáng sớm hai ở bên đường.

tre-tren-pho

 

Những đứa trẻ trên hè phố Hà Nội.

moi-nga-duong

 

Mọi ngả đường tràn ngập xe đạp.

cau-long-bien

 

Trên cầu Long Biên.

ben-do

Bến đò ở ngoại thành Hà Nội.

lam-ruong

Cảnh làm ruộng tập thể tại một hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Nội.

hinh-anh

Quốc lộ 32 gần thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cũ.

pho-cu

Phố Trần Quang Khải ở Hài Phòng.

quan-doi

 

Một đơn vị quân đội diễu hành ở Hải Phòng.

doan-xe

 

Đoàn xe side-car xuất hiện trên đường phố Hải Phòng.

Hà Nội những năm 1979 mang đến cho chúng ta một cảm giác thân thương lạ thường. Cuộc sống giản dị, con người giản dị mang đến sự ấm áp của lòng người.

Nguồn: Sưu tầm