Những bức ảnh quý về Đà Lạt những năm Pháp thuộc

Là địa danh cực lỳ nổi tiếng về vẻ đẹp, sự thơ mộng cũng như quyến rũ. Ngày nay Đà Lại là một trong những nơi du lịch mà người Việt lựa chọn hàng đầu. Với những rừng thông xanh ngát, những địa điểm như: thung lũng tình yêu, lăng bảo đại,… có lẽ chúng luôn luôn là nơi mà mọi người chúng ta mong muốn đến 1 lần trong đời. Vậy Đà Lạt ngày nay là thế, vậy Đà lạt xưa thì sao ?? Không phải ai cũng biết. Tuy nhiên dưới đây chúng tôi ngẫu nhiên có được những bộ ảnh vô cùng quý giá về đà lạt những năm pháp thuộc. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu và chiêm ngưỡng vẻ đẹp, sự quyến rũ của chúng.

 

ban-do-da-lat

1. Bản đồ Đà Lạt ngày xưa – được mệnh danh là thiên đường nơi hạ giới

 

da-lat-1925

2. Ảnh chụp Đà Lạt năm 1925 – 1930

22 23 24 25 25-1 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 41 43 45 49 50 51 daalt-11 dalalt-14 dalalt-18 dalat-2 dalat-3 dalat-4 dalat-5 dalat-6 dalat-9 dalat-10 dalat-12 dalat-13 dalat-15 dalat-16 dalat-17 dalat-18 dalat-20 dalat-21 da-lat-1925 dalt-7 dalt-8

 

Ngày ấy và bây giờ nhìn chung hầu như không thay đổi nhiều, vẫn e ấp, vẫn quyến rũ, vấn níu kéo người đi ở lại. Có chăng đi nữa chỉ là một Đà Lạt đẹp hơn, tráng lệ hơn, lộng lẫy hơn mà thôi.

Đà Lạt có lẽ nổi tiếng với hai điều: một là thành phố hoa lệ với dinh thự sang trọng, đẳng cấp tồn tại cả thế kỷ vẫn giữ nét cổ kính xen lẫn hiện đại đan xen, những rừng thông bạt ngàn xanh ngắt. Là địa danh nổi tiếng là sự kết hợp của vẻ đẹp dịu dàng, đắm thắm nhưng kiêu sa, mang dòng máu lai quý tộc Việt và Pháp, chắc chắn rằng bạn sẽ không bao giờ hối tiếc khi đặt chân tới đây.

Từ 1945 đến nay văn hóa Việt Nam thay đổi như thế nào ?

Dân tộc Việt Nam chúng ta đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử hào hùng. Tuy hàng nghìn năm lịch sử chúng ta bị áp bức bóc lột nhưng đôi khi đây chính là lợi thế dành cho văn hóa Việt Nam chúng ta – ngoài có nền văn hóa truyền thống chúng ta còn vừa được du nhập thêm những văn hóa châu âu, văn hóa châu mĩ. Đây có thể được coi là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước của cộng đồng các dân tộc VN, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa của chúng ta đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh VN, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.”
Để có cái nhìn khái quát hơn hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về sự thay đổi của văn hóa VN từ 1945 tới nay nhé.

1. Về mặt thời gian
Từ sau cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (CHXHCN Việt Nam) đến nay tròn 66 năm. Khoảng thời gian đó rất ngắn so với lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc. Giai đoạn này lại trải qua nhiều biến cố lịch sử, văn hóa dân tộc cũng chịu sự tác động lớn lao.Những giá trị văn hóa mới đang định hình cần có thời gian thử thách và sàng lọc.

vn-sau-1945

2. Về mặt không gian, lịch sử
Đây là giai đoạn có nhiều biến cố lịch sử: Cách mạng tháng Tám 1945, kháng chiến chống Pháp, chiến tranh chống Mĩ, đất nước tạm thời bị chia cắt, tổ quốc thống nhất đi lên Chủ nghĩa Xã hội, vượt qua thời kỳ khó khăn về kinh tế, đổi mới và phát triển, phá thế bao vây, cấm vận để hội nhập với khu vực và thế giới…
3. Đặc điểm văn hoá thời kỳ này:
– Ba mươi năm chiến tranh kìm hãm sự phát triển của VH, nhưng sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt là thời kì đổi mới theo khởi xướng của Đảng từ sau Đại hội lần thứ VI năm 1986 đến nay, VHVN có điều kiện, cơ hội phát triển nhưng cũng không ít những thách thức trên con đường bảo tồn và phát triển của mình.
– Người lao động trở thành người làm chủ – chủ thể của nền VH mới vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc dân tộc.
– Nền VH bảo tồn và phát triển theo sự định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ các văn kiện như ”Đề cương văn hoá Việt Nam”, (1943), ”Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam” (1948); các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cũng như các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng…
– Hệ tư tưởng xã hội: Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và tư tưởng, phương pháp luận của người Việt Nam.
– Giao lưu mạnh mẽ và rộng khắp với văn hoá các dân tộc trên thế giới.
– Kinh tế thị trường, ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai đã tác động không nhỏ tới bản sắc VH dân tộc.
4. Thành tựu văn hóa chính
Dự báo đây là giai đoạn VHVN sẽ phục hưng và phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện, đạt tới đỉnh cao mới. Về cơ bản, đời sống văn hóa người Việt hiện nay vẫn mang những nét truyền thống của văn hóa dân tộc nhưng đồng thời cũng có những chuyển biến biến mạnh mẽ, ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài (chủ yếu phương Tây) và mang những nét của văn hóa hiện đại. Những giá trị văn hóa mới ấy đang định hình cần có thời gian thử thách và lựa chọn.
Tuy vậy, chúng ta cũng có thể nêu một vài nét tiêu biểu của VH giai đoạn này:
a. Về văn hóa tinh thần:
– Khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của xã hội. Tiến bộ khoa học được áp dụng trên mọi lĩnh vực kể cả trong sản xuất nông nghiệp.
– Người Việt Nam đã suy nghĩ khách quan, lý tính hơn trong xử lý công việc, coi trọng thực nghiệm – đây cũng là thể hiện sự ảnh hưởng của lối tư duy phân tích của phương Tây
– Lối sống hiện đại ngày càng trở nên phổ biến, nhất là đối với giới trẻ.
– Đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Việt hiện nay đa dạng, phong phú. Bên cạnh những phong tục, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống (lễ hội, lễ tết, thờ cúng ông bà tổ tiên…) còn xuất hiện thêm nhiều lễ hội, tôn giáo tín ngưỡng khác.
Các phong tục truyền thống có sự thay đổi để phù hợp với thực tế hơn (ví dụ: trước đây lễ cưới phải nộp cheo cho làng thì nay không còn nữa). Lễ tết, lễ hội kết hợp truyền thống và hiện đại (tục lệ gói, luộc bánh chưng chỉ xuất hiện chủ yếu ở vùng nông thôn, còn ở thành thị người ta thường mua bánh chưng về để trưng trên bàn thờ, bàn thờ ngày tết bên cạnh những vật thờ truyền thống thường thấy có thêm bánh kẹo, rượu bia…). Nhiều phong tục, lễ hội mới được tổ chức (như lễ hội trái cây ở miền Tây Nam bộ, lễ hội hoa, lễ hội cà phê…) hoặc du nhập vào Việt nam và dần trở thành nét sinh hoạt văn hóa của giới trẻ (như ngày tình nhân Valentin 14-2, lễ hội hóa trang, Nô-en…)
– Văn học nghệ thuật phát triển hiện đại, đa dạng, phong phú, đạt nhiều thành tựu to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng đất nước và làm giàu VH dân tộc.
b. Về văn hóa vật chất
– Cơ sở hạ tầng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng. Nhiều công trình kiến trúc hiện đại làm thay đổi bộ mặt đất nước: thủy điện Hòa Bình, cầu Cần Thơ, hầm Thủ Thiêm…
– Tốc độ đô thị hóa nhanh. Đô thị đã chuyển từ chức năng trung tâm chính trị đã chuyển sang phát triển theo theo mô hình đô thị công – thương nghiệp, chú trọng chức năng kinh tế.
– Về ăn: Người Việt vẫn giữ được những nét của văn hóa ăn uống dân tộc. Cơ cấu bữa ăn đã có phần thay đổi tuy lúa gạo vẫn là lương thực chính trong bữa ăn.
Về đồ uống ngoài các sản phẩm truyền thồng như các loại như rượu, nước vối, nước chè xanh…thì các sản phẩm công nghiệp đang dần chiếm ưu thế.
Nhiều món ăn phương Tây, đặc biệt là món ăn nhanh xuất hiện và được ưa chuộng để phù hợp với nhịp sống bận rộn thời công nghiệp.

cho-ben-thanh
– Về mặc: Hiện nay, trang phục thường ngày đã được Âu hóa. Các loại thời trang công sở, thời trang lễ hội, các loại đồ mặc ở nhà, mặc khi đi ngủ… xuất hiện nhiều và đa dạng về mẫu mã. Trang phục dân tộc chỉ còn xuất hiện trong lễ hội.
Chất liệu may mặc hiện nay cũng rất đa dạng, sử dụng nhiều các chất liệu công nghiệp như vải pha, cô-tông…
– Về ở: Nhà của người Việt hiện nay cũng chịu ảnh hưởng lớn của phong cách bên ngoài, đặc biệt là cấu trúc, chất liệu nhà ở theo kiểu phương Tây. Không chỉ ở đô thị, nhà cửa được bê tông hóa mà xu hướng đó cũng đang ngày càng phổ biến ở nông thôn.
– Về đi lại: Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy ngày càng phát triển. Phương tiện đi lại đa dạng và hiện đại (xe máy, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay…).

Nhìn vào những vấn đề trên chúng ta có thể cảm thấy vô cùng tự hào là con người VN, dòng máu VN vô cùng hào hùng phải không. Chúng ta hãy cùng nhau ngày một chung tay phát triển đất nước nhé.

Cuộc sống của người Sài Gòn trước năm 1975

Vào mỗi thời kỳ đất nước, cuộc sống của con người cũng dần thay đổi. Các bạn có bao giờ thắc mắc nếp sống của con người Sài Gòn khác những điểm gì so với hiện nay hay không? Bài viết dưới này sẽ giúp bạn làm sáng tỏ những thắc mắc, đang suy nghĩ trong đầu bấy lâu nay.

Bây giờ, mỗi lần ngang qua con đường Đồng Khởi (xưa là đường Catinat), không ít người Sài Gòn từng sống trước năm 1975 như vẫn thấy thấp thoáng đâu đây quá vãng của một thuở xưa.

Lúc đó, đường Catinat là bộ mặt sinh hoạt của cả Sài Gòn – thành phố thuộc địa đầu tiên ở vùng Viễn Đông, với sự hiện diện của khoảng 3.000 người Pháp, hơn 3/4 trong số này là sĩ quan và viên chức.

Người Pháp đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc trên đất Sài Gòn, mang đến đây cả lối sống theo phong cách châu Âu, như một bản sao của nước Pháp.

Tiêu biểu cho sinh hoạt trên đường Catinat vào thời kỳ đầu Pháp thuộc là nhiều cơ sở dịch vụ thương mại được thành lập từ rất sớm: Những khách sạn, nhà hàng bắt đầu xuất hiện, những cửa hiệu buôn bán sang trọng, những thương xá sầm uất…

Và đương nhiên, không thể thiếu những khu giải trí, vui chơi kiểu Pháp: Rạp hát, quán cafe, quán bar, vũ trường…

Người Sài Gòn ngày ấy cũng mưu sinh bằng đủ thứ nghề, người trí thức thì làm công sở, kẻ ít học thì buôn bán nhỏ lẻ hay lao động chân tay.

Người giàu có thì làm ông chủ, kẻ nghèo thì làm công, làm mướn. Lẫn đâu đó trong cái không gian sang trọng, hiện đại nơi những ngôi nhà cao tầng, những biệt thự nhỏ xinh là cuộc sống khốn khó, vất vả của phần đông tầng lớp cư dân đô thị nghèo.

sai-gon-truoc-1975-1

Họ làm trong các công xưởng, buôn thúng bán mẹt ngoài chợ hoặc cả ngày “mài chân” trên đường chạy xe ngựa, xích lô kiếm sống.

Hai bên lề đường, các thợ may, thợ đóng giầy người Hoa hoạt động khá đông, sau đó đến các cửa hiệu tạp hóa, nơi mọi người có thể tìm thấy thức ăn khô, mũ nón hay yên cương…

Gabrielle M.Vassal, một phụ nữ Pháp có chồng là bác sĩ, trong lộ trình theo chồng sang Việt Nam ở Nha Trang, bà đã dừng chân ở Sài Gòn một thời gian.

Bằng sự quan sát tinh tế, bà đã miêu tả khá sinh động nhịp sống Sài Gòn xưa trong quyển ký “Mes trois ans d Annam” (Ba năm sống ở Việt Nam) do nhà Hachette (Paris) xuất bản năm 1912.

Trong đó có đoạn: “Người ta nhìn thấy nhiều dân bản xứ đi trên phố. Ngày làm việc kết thúc, họ đi thành từng nhóm trên đường về nhà. Trong số họ, các thầy thông ngôn được phân biệt bởi mái tóc cắt ngắn, chiếc khăn đội đầu xếp nhiều lớp một cách hoàn hảo, quần dài trắng, giầy cổ thấp và vớ ngắn.

Các nông dân mặc áo cánh màu xanh sẫm, có khi vá nhiều chỗ đến nỗi không còn thấy mảnh vải gốc nào nữa, và quần dài trắng.

Họ đi một bên lề đường, chân để trần, người này đi sau người kia. Những phụ nữ bản xứ có địa vị cao hơn thì ngồi xe kéo (pousse – pousse), người thì quấn khăn bằng lụa mỏng trên đầu, người thì cẩn thận cài chiếc trâm vàng trên búi tóc đen nhánh…

Chúng tôi ngồi ăn tối trên sân thượng nhà hàng Continental. Dù đã khuya, những bàn ăn chất đầy rượu mạnh và thức uống lạnh vẫn còn đông khách.

sai-gon-truoc-1975

Con đường (Catinat) im ắng, nhưng đồng thời cũng rất náo nhiệt. Xe kéo chạy thật êm trên những chiếc bánh cao su, người phu xe nện đôi chân trần xuống đất mà không gây ra một tiếng động nhỏ nào….

Đó chính là bức tranh của Sài Gòn những năm Pháp thuộc. Những mảng màu sáng tối rõ ràng, những thân phận đã được mặc định ở nơi bị biến thành thuộc địa”.

Nhưng vốn là vùng đất cởi mở, linh hoạt do yếu tố cấu thành từ nhiều thành phần dân cư từ các vùng miền khác nhau nên người Sài Gòn cũng rất dễ tiếp nhận những cái mới và dung hòa nó.

Trong “Gia Định thành thông chí”, Trịnh Hoài Đức có đoạn viết: “Vùng Gia Định nước Việt Nam, đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ, nhà nào tục nấy”.

Bởi thế nên trong mắt nhiều người, người Sài Gòn là dân chơi thứ thiệt với lối sống làm bao nhiêu xài bấy nhiêu và dù sống trong khó khăn, nghèo khổ vẫn giữ cho mình những thú vui giải trí và hưởng thụ.

sai-gon-truoc-1975-2
Như Hồ Biểu Chánh từng miêu tả trong tác phẩm “Từ hôn” rằng: “Tại các cửa lớn, người ta tựu lại chật nứt, trai chải đầu láng mướt, gái thoa môi đỏ lòm, già ngậm thuốc điếu phì phà, khói bay tưng bừng. Mẹ dắt bầy con, đứa chạy trước nghinh ngang, đứa theo sau núc ních, kêu nhau inh ỏi.
Cảnh sinh hoạt trên đường Catinat những năm 1960.

Tốp chen lấn mua giấy, tốp ùng ùng vào cửa, người mặc y phục đàng hoàng chung lộn với kẻ bình dân lao động không ái ngại chi hết, mà coi ra thì trên gương mặt mỗi người đều có vẻ hân hoan hớn hở”…

Những nếp sinh hoạt này của người Sài Gòn hầu hết vẫn còn giữ cho đến ngày nay. Nhưng là ở một thời kỳ mới, trong một không gian khác: Tự do và hiện đại.

Vào từng thời kỳ thì đời sống của con người cũng dần thay đổi, nếp sống sinh hoạt cũng khác so với năm tháng. Bài trên nói về cuộc sống của người Sài Gòn trước năm 1975, hy vọng bài viết này có thể giúp ích cho bạn.

Theo Nguoiduatin

Đời sống kinh tế thời bao cấp ở miền Nam – Ngày sau Đổi mới… ( Kỳ cuối)

“Đêm trước Đổi mới” mọi chuyện còn được kể như không tưởng tượng được. Vậy mà sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, sau bao nhiêu tranh đấu, ngày sau Đổi mới đã ló dạng trên quê hương Việt Nam. Năm 1986 đã đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc. Đổi mới theo đúng nghĩa của nó đã mang lại cho đất nước một bộ mặt hoàn toàn mới. Tuy nhiên, sự thay đổi đột ngột này, một lần nữa làm cho một số bộ phận dân chúng cảm thấy khó chịu, đặc biệt là những người ở Bắc.

Chú T kể, hồi mới mở cửa, ở ngoài Bắc, nhiều người người ta còn chửi. Ông Nguyễn Văn Linh hồi đó bị nghe người ta chửi không phải là ít. Cố gắng “mở cửa” cho được tự do thì lại bị chửi. Chuyện nghe thật vô lí nhưng nghĩ lại có lẽ do lúc đó một số người cảm thấy họ bị mất thăng bằng, hay đúng hơn là họ không còn nơi để nương tựa.

Ngày trước, ngoài Bắc hầu hết đều là dân cán bộ, gần như nhà nào cũng có chế độ. Mặc dù cuộc sống nghèo khổ nhưng họ lại quen với việc được nhà nước “bao cấp”,  đến tháng thì được phát gạo cho ăn… Thế nên đến lúc “mở cửa”, phải tự lực cánh sinh thì họ bắt đầu chửi. Về việc này, chú T ví dân miền Bắc lúc bấy giờ như con gà công nghiệp. Cái gì cũng được nuôi, cho ăn, cho uống, đến lúc thả ra phải tự sống thì không biết phải làm nghề nghiệp gì để sống. Còn dân miền Nam thì như con gà thả vườn khi thả ra còn biết tự kiếm sống, biết kế thừa những cái do chế độ cũ để lại. Vì thế các ngành nghề của người dân miền Nam cũng đa dạng hơn rất nhiều.

Dù sao, với thời gian khoảng cách này không phải là không rút ngắn hay xoá bỏ được, sớm hay muộn thì người Việt Nam cũng đều nhận ra đất nước cần phải được đổi mới. Những trang sau đó của lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó là đúng đắn. Cái quan trọng là niềm tin của con người dành cho nhau và cho đất nước. Tin rằng, chỉ cần đất nước thực sự thống nhất, chỉ cần lòng người có thể thấu hiểu và đoàn kết với nhau thì không có khó khăn nào mà Việt Nam không thể vượt qua.

"Sớm hay muộn thì người Việt Nam cũng đều nhận ra đất nước cần phải được đổi mới" (ảnh minh họa) - Nguồn: Internet
“Sớm hay muộn thì người Việt Nam cũng đều nhận ra đất nước cần phải được đổi mới” (ảnh minh họa) – Nguồn: Internet

1986-2011, tôi nhìn những con số này và chẳng thấy có bất kì sự gặp nhau nào. Tuy nhiên, giữa chúng khoảng cách đã là 25 năm. 25 năm không phải là một chặng đường quá dài nhưng là một con số đáng để người ta phải nhìn lại. Những câu chuyện đã kể của những người đã khuất và những câu chuyện của cả những người vẫn còn. Những câu chuyện ấy mai đây sẽ được kể cho những thế hệ tiếp nối. Qua những câu chuyện về cuộc đời ấy, mong sao lòng người gặp được nhau. 25 năm không chỉ để quay đầu nhìn lại mà còn là để kéo các thế hệ gặp nhau và để lịch sử làm tròn sứ mạng của nó. Sứ mạng của việc truyền thụ và sứ mạng của việc học hỏi. Tôi có thể nói gì với con cháu về những gì đã xảy ra, tôi có thể học hỏi được gì từ những việc được nghe lại. “Bao cấp, Đổi mới” – hai từ ngắn gọn đó như hai mặt của một tờ giấy và tờ giấy ấy viết trong nó lịch sử của rất nhiều người. Tôi tự hỏi mình sẽ đọc lại lịch sử và những gì xảy ra trước và sau 25 năm ấy như thế nào?

Đời sống kinh tế thời bao cấp ở miền Nam – Nhìn về miền Nam sau ngày giải phóng (Kỳ 7)

Miền Nam Việt Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh sau ngày giải phóng, không phải là không có nhiều thay đổi. Có những cái thay đổi sâu xa không thể nhìn thấy được, nhưng cũng có những cái thay đổi hiện ra rõ ràng trước mắt như cách ăn mặc chẳng hạn. Đó là lí do vì sao khi được hỏi những thay đổi của Sài Gòn sau ngày giải phóng, chú T đã nhớ ngay đến cái thay đổi trong cách ăn mặc của người dân thành phố. Chú nói thời bao cấp thật là một thời đáng để người ta nhớ. Biết rằng đây là thời kì có bao nhiêu cái trì trệ, nhưng có cần chăng để dân Việt nhìn lại mình và có một chút cái gì gọi là chấn chỉnh lại? Chú T nhớ lại thời trước, thời của Nguyễn Văn Thiệu, mọi thứ khác xưa rất nhiều. Người ta kể rằng con gái ra đường không còn biết ý tứ, giữ gìn nết na thuần phong mỹ tục. Thời đó, các me Mỹ, gái điếm lên làm bà, trật tự xã hội, giá trị đạo đức bị đảo lộn. Đến ngày miền Nam được giải phóng, nhà nước tiếp quản Sài Gòn, mọi cái lại khắt khe một cách quá đáng. Chú T nói hai thời đó chỉ xảy ra trước và sau năm 1975, vậy mà nó thay đổi và khác nhau như hai thái cực; một bên thì phóng khoáng, lai căng, một bên thì kín đáo, khắt khe. Thời bao cấp, chỉ cần mặc quần hơi loe một tí là người ta rạch luôn, còn ai mặc áo màu này màu kia là lập tức bị kiểm điểm liền. Một người nào đi ra đường mà đeo cái kính ngược lên tóc cũng có người gọi lại để chỉnh. Còn bao nhiêu cái khác như mặc áo không được hở cổ, hở nách,… Có khi mấy anh Tỉnh Uỷ ngồi nói chuyện với nhau, trong số đó có mấy người đi ra nước ngoài, thấy người ta mặc đồ màu này màu kia trông cũng đẹp mắt. Mình ở đây cứ cấm đoán, đâm ra nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn màu đen, trông cái gì cũng đen đen, quần đen, áo đen, trông nó quê một cục. Chú vừa cười vừa kể cho tôi chuyện ăn mặc thời bao cấp, chẳng ai nghĩ có một thời kì như thế. Cái đập vào mắt người ta hằng ngày ai cũng biết, biết là nó xấu, biết là nó quê mùa và có lẽ người ta cũng biết nó cần phải thay đổi.

" Biết rằng đây là thời kì có bao nhiêu cái trì trệ, nhưng có cần chăng để dân Việt nhìn lại mình và có một chút cái gì gọi là chấn chỉnh lại?"
” Biết rằng đây là thời kì có bao nhiêu cái trì trệ, nhưng có cần chăng để dân Việt nhìn lại mình và có một chút cái gì gọi là chấn chỉnh lại?”

Nhớ đến miền Nam ngày giải phóng, chú T cũng không quên hình ảnh những đồng chí cán bộ từ Bắc vào lúc nào cũng sự ngỡ ngàng trước sự phát triển của miền Nam, đặc biệt là những người dân ở miền Bắc. Ngày trước, khi một người miền Nam vào miền Bắc, người miền Bắc xem người miền Nam như thể Việt kiều về nước bây giờ. Tôi không thể ngờ rằng, người dân trên cùng một đất nước Việt Nam sau những năm xa cách lại có thể khác nhau đến như vậy. Chú T còn kể ngày xưa khi còn ở bưng, chú được mấy bà mẹ anh hùng liệt sĩ nhận làm con. Sau ngày giải phóng, chú theo các cán bộ trở về Sài Gòn. Được các bà mẹ gửi gắm, chú được các anh trong Thành Uỷ nhận làm em. Với mối quan hệ này, họ giúp chú cũng nhiều mà họ nhờ chú cũng nhiều, từ việc lớn lao như giúp nghĩ cách phát triển lại kinh tế miền Nam cho đến những việc cỏn con như nối điện, sửa ti vi,… Lúc bấy giờ, chú hay bị nhờ là vì cái gì chú cũng rành rọt hơn, từ đường đi nước bước ở Sài Gòn cho đến lắp sửa điện hay các loại máy móc. Dù sao, chú là sinh viên Sài Gòn được học biết nhiều, lại là con nhà công nghiệp nên biết nhiều về các thiết bị máy móc này kia. Chú kể, ngày đó khi mới trở lại Sài Gòn, đi đâu mấy cán bộ cũng nhờ chú bắt điện. Mấy bộ đội ở miền Bắc vào không biết gì về điện, nhìn thấy điện rất sợ. Có mấy ông nhìn cái lavabo của mình, tưởng là cái chỗ để vo gạo nên lấy gạo vo rồi bấm nút xả làm gạo trôi hết, rồi bực mình mới nói cái này Mỹ nó chơi, nó gài mình. Mấy cái bình biến thế điện treo ở cột điện  thì mấy ông kêu là bom, cứ thế bắn, nguy hiểm vô cùng. Hồi đó ở ngoài Bắc, mấy ông đó có thấy mấy cái này bao giờ. Chú T còn kể khi chú hỏi có biết cái tủ lạnh là cái gì không? Mấy ông đâu có biết cái tủ lạnh là gì  nên trả lời với chú là tủ lạnh chạy đầy đường. Vì lúc đó họ nghĩ cái tủ lạnh là mấy cái thùng xe công-ten-nơ. Theo nhận xét của chú T, cán bộ thiếu trình độ nhiều lắm. Hồi chú còn sống trong bưng, chú đã thấy hiếm có ai có được trình độ cao, toàn mấy ông i, t. Chú nói, cán bộ nào cao nhất là lớp ba, lớp bốn. Người biết đọc, biết viết đã kể như là giỏi lắm rồi, còn về tiếng Tây (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga…) thì kể như mù tịt.

Tôi nghe lại những câu chuyện này, mới nghe qua đúng là cảm thấy thật buồn cười. Có ai không nghĩ, trời cái đó mà cũng không biết. Tôi cho rằng chuyện không biết cái này cái kia cũng là chuyện không lạ. Tôi chẳng trách chuyện người ta không biết rồi sinh ra những câu chuyện ngây ngô như vậy. Cái gì không biết rồi từ từ sẽ biết, chỉ cần muốn biết cái gì cũng sẽ biết. Tôi chỉ sợ có những lúc con người biết mà cứ như thể là không biết hoặc không còn muốn biết nữa mà thôi.  

 

Đời sống kinh tế thời bao cấp ở miền Nam – Bộ hồ sơ xuất khẩu gỗ cao su đầu tiên ở Việt Nam (Kỳ 6)

Với thành công từ việc chế tạo giấy nhám, keo dán, vec ni, máy sấy gỗ và sau này là băng nhám, chú T đã từng bước giúp cho ngành công nghiệp sản xuất gỗ khởi sắc. Nhiều người biết đến chú như một chuyên gia trong ngành chế biến gỗ và việc đầu tư cho sản xuất các sản phẩm từ cây cao su cũng được chú T quan tâm nhiều hơn. Từ gỗ cây cao su, chú và đội ngũ công nhân của mình đã cho ra đời ngày càng nhiều các sản phẩm đẹp và chất lượng. Được ưa chuộng nhất lúc bấy giờ là các vật  dụng gia đình như bàn, ghế, tủ khay, kệ đựng sách báo,… Các sản phẩm từ gỗ cây cao su thời đó đã trở nên có giá trị và được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Chú T nhớ khối gỗ cao su đầu tiên mà chú mua chỉ có 130 đô. Hồi đó, cũng không hẳn là chú mua mà là chú đi xin. Chú xin nông trường gỗ cao su già đã không còn có thể cạo mủ. Vì không thấy hết giá trị của cây cao su nên nông trường cho chú T và đổi lại, chú T phải cho máy ủi vào dọn sạch mảnh đất để nông trường trồng cây cao su mới. Về sau, khi các sản phẩm từ cây cao su được ưa chuộng, giá thành của cây cao su cũng dần tăng lên, hiện nay có thể ở giá trên 1000 đô một khối.

Khi các sản phẩm từ cây cao su được sản xuất ngày càng nhiều và đạt đến trình độ tinh xảo, chú T có nhu cầu xuất khẩu các mặt hàng này ra nước ngoài. Tuy nhiên, việc xuất khẩu thật không dễ dàng, đặc biệt đối với các sản phẩm làm bằng cây cao su, vì đối với Việt Nam, đây là lần đầu tiên có người đề nghị các đem các sản phẩm từ gỗ cây cao su đi xuất khẩu. Chú T kể rằng, ngày đó, muốn xuất khẩu được thì phải đóng thuế tài nguyên bên Chi cục kiểm lâm mới có đủ hồ sơ cho việc xuất khẩu gỗ. Trong khi đó, gỗ cao su lại không thuộc lâm nghiệp quản lí nên chú T đã không thể đóng được thuế tài nguyên. Các cán bộ bên Cục kiểm lâm cho rằng cây cao su thuộc cây nông nghiệp chứ không thuộc cây lâm nghiệp. Không thể không làm bộ hồ sơ này, chú T đã đánh các văn bản kính gửi Tổng cục cao su, Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp để xin xem xét trường hợp của cây cao su.

"Vì đối với Việt Nam, đây là lần đầu tiên có người đề nghị các đem các sản phẩm từ gỗ cây cao su đi xuất khẩu"
“Vì đối với Việt Nam, đây là lần đầu tiên có người đề nghị các đem các sản phẩm từ gỗ cây cao su đi xuất khẩu”

Sau thời gian chờ đợi, Bộ Lâm nghiệp trả lời chú T bằng một văn bản nói rằng cây cao su không phải là cây thuộc lâm nghiệp, đề nghị bên Tổng cục cao su giải  quyết. Tổng cục cao su lại xác định rằng những cây cao su này là những cây đã thanh lí, những cây cao su già khoảng 40-50 tuổi không thể cho mủ nữa thì cần phải được thanh lí và trồng mới. Bộ Nông nghiệp lại trả lời rằng cây cao su là cây nông nghiệp và đề nghị miễn thuế tài nguyên, vì trong quá trình cạo mủ, nó đã được  đóng thuế 12%. Sau khi nắm được tình hình các văn bản trên, ông Phan Văn Khải, lúc bấy giờ là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã thông qua văn bản xem xét cho cây cao su được xuất khẩu. Như vậy, trải qua nhiều khó khăn, với những văn bản được xác nhận, chú T là người có trong tay bộ hồ sơ đầu tiên cho việc xuất khẩu gỗ cây cao su ở Việt Nam.

 

Đời sống kinh tế thời bao cấp ở miền Nam – Làm sao để cứu các sản phẩm gỗ khỏi ẩm mốc? (Kỳ 5)

Kết thúc kế hoạch 5 năm đầu tiên với việc đầu tư cho ngành thủ công nghiệp mây, tre, lá, chú T chuyển sang tìm hiểu về ngành công nghiệp sản xuất gỗ, đặc biệt là gỗ cây cao su. Với ý tưởng muốn bảo vệ rừng thì phải sử dụng rừng trồng, chú T một lần nữa tập trung tìm hiểu đề tài “Bảo vệ rừng bằng cách sử dụng rừng trồng”. Với ý tưởng này, chú kêu gọi một số nhà khoa học nghiên cứu về rừng trồng, trong đó nhấn mạnh đến cây cao su. Cây cao su lúc bấy giờ chỉ được người ta sử dụng như củi đốt cho lò gạch. Về sau, với sự nghiên cứu kĩ càng của mình, cộng với sự thành công trong việc chế tạo keo dán, vecni, giấy nhám là ba loại vật liệu rất quan trọng trong ngành chế biến gỗ, chú T quyết định gắn bó nhiều hơn với cây cao su, biến loại cây này thành những sản phẩm đẹp và có chất lượng.

Khi chế tạo thành công giấy nhám với mục đích phục vụ cho ngành tiểu thủ công nghiệp mây tre lá, chú T được mời làm chuyên gia cho một số nhà máy gỗ, trong số đó có nhà máy gỗ Phú Lâm của Bộ Lâm nghiệp. Khi tham gia cộng tác với các đơn vị này, chú T thấy rằng để tạo ra các sản phẩm gỗ, người ta thường chỉ sử dụng gỗ nhóm một. (Chất lượng gỗ thường được xếp theo nhóm. Gỗ nhóm một là những loại gỗ quý). Chú thấy có một sự ngược đời là, tại sao Bộ Lâm nghiệp là cơ quan bảo vệ rừng lại cho phép các nhà máy của mình khai thác toàn gỗ quý. Không đồng ý với điều đó, chú T quyết tâm nghiên cứu gỗ trồng. Chú cho rằng, con người ngày nay, nhất là ở các nước có nền kinh tế phát triển ngày càng yêu chuộng các loại sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên, và các sản phẩm từ gỗ là một trong số đó. Tuy nhiên, không phải vì thế mà con người có thể phá rừng để sản xuất các vật dụng theo ý mình. Con người cần phải bảo vệ rừng, nhưng cũng cần phải tìm một cái khác để thay thế. Theo nghiên cứu của chú, cái thay thế tốt nhất để vừa có thể cung cấp nguyên liệu cho việc sản xuất các mặt hàng bằng gỗ, vừa đảm bảo cho việc bảo vệ rừng đó là cây gỗ trồng. Chú nói, chỉ cần biết cách xử lý thì gỗ nào cũng có thể biến thành gỗ tốt. Lý lẽ này bước đầu đã thuyết phục được các nhà máy gỗ lúc bấy giờ chuyển sang đầu tư cho cây gỗ trồng, đặc biệt là cây cao su.

"Chỉ cần biết cách xử lý thì gỗ nào cũng có thể biến thành gỗ tốt"
“Chỉ cần biết cách xử lý thì gỗ nào cũng có thể biến thành gỗ tốt”
Bước vào ngành gỗ rừng trồng, chú nói cái gay nhất của chúng ta lúc bấy giờ là lò sấy gỗ. Do đặc tính của gỗ rừng trồng nói chung, của cây cao su nói riêng là sau khi xẻ xuống, nếu không có biện pháp xử lý nghiêm ngặt thì rất dễ bị mối mọt và mốc xanh. Chú T nói chỉ cần để hai ngày mà không kịp sấy là gỗ sẽ tự mốc xanh lên. Lúc đó, gỗ chỉ có nước bỏ đi, không làm gì được. Làm củi cũng không được chứ đừng nói làm các sản phẩm bán cho người nước ngoài, vì ở đó điều người ta kị nhất là nấm mốc.

Ngày đó, người ta có sử dụng máy sấy Nhật. Nhưng việc dùng chúng vào thời kì Việt Nam đang gặp khó khăn không phải là chuyện đơn giản, một phần vì giá thành quá cao (sấy 10 khối gỗ mất 22 ngàn đô), một phần vì máy chỉ chạy bằng điện mà điện lúc bấy giờ thì chỉ là “từng giọt điện” – như chú T nói. Vậy là một lần nữa chú T lao vào con đường tìm tòi. Và chú đã thành công với lò sấy gỗ tự chế. Trong bài “Chế biến gỗ cao su xuất khẩu từ lò sấy tự chế trị giá năm triệu đồng”, báo Sài Gòn Giải phóng số ra ngày 12/3/1994, đã viết về lò sấy này như sau: “Qua ba năm trời miệt mài (từ 87 đến 89) vừa làm vừa thử nghiệm theo quy trình công nghệ riêng của mình, tốn hao lắm tiền của và nhiều đêm thức trắng, cuối cùng thành quả đã đến với anh (chú T). Năm 89, anh đã tự chế tạo được lò sấy kết cấu đơn giản, vận hành theo đúng nguyên tắc xử lí về nhiệt của gỗ, có khả năng sấy từ 6m3– 15m3 gỗ trong vòng 4 ngày và đạt độ ẩm theo đúng chuẩn cho phép. Lò sấy được thiết kế  bằng gạch, hệ thống nhiệt đun bằng các loại phế phẩm của ngành mộc: mạt cưa, dăm bào, gỗ  “đầu thừa đuôi thẹo”…Lò sấy tự chế của chú T chính thức ghi nhận sự thành công vào năm 1989. Có người sẽ thắc mắc rằng tại sao đang nói chuyện thời bao cấp tôi lại kể chuyện về một cái máy được chế ra vào năm 1989. Quả thật, năm 1989 là năm đất nước đã mở cửa. Tuy nhiên, tôi cho rằng cái dư âm của thời bao cấp không phải một sớm một chiều là có thể biến mất hoàn toàn. Việt Nam lúc bấy giờ vẫn ở trong tình trạng vô cùng khó khăn. Tuy không còn bị đóng cửa như thời bao cấp, nhưng các ngành công nghiệp của Việt Nam chưa đủ sức để có thể sắm sửa cho mình những thiết bị hiện đại của nước ngoài. Mặt khác, các thiết bị đó nếu được mang vào Việt Nam cũng khó sử dụng vì tình hình điện của Việt Nam còn rất thiếu thốn. Nói như vậy để thấy rằng, lò sấy gỗ tự chế của chú T tuy mang dấu ấn của cá nhân chú nhưng nó còn cho thấy cả một bối cảnh lịch sử đằng sau nó. Nó ra đời trong chính những khó khăn của những ngày đầu mới mở cửa. Cái máy sấy ấy trong vô số các sản phẩm tự chế khác là những minh chứng sống động cho một thời kì với đầy dẫy những khó khăn của nước ta. Tuy nhiên, cũng chính nhờ nó, bản thân tôi thấy được không phải là cái bóng đen của thời bao cấp, mà còn là tinh thần sáng tạo, ý chí kiên cường dám đương đầu và vượt qua mọi thử thách của con người Việt Nam.

 

Đời sống kinh tế thời bao cấp ở miền Nam – Trên đường đi công tác (Kỳ 4)

Khi được hỏi trong thời kì Bao cấp điều gì làm cho chú nhớ nhất, chú T đã kể cho tôi nghe về một câu chuyện, câu chuyện mà bản thân chú cho là biểu hiện rõ nhất của hình ảnh “ngăn sông cấm chợ” đã diễn ra ở Việt Nam lúc bấy giờ. Chú T cho biết để lo nguyên liệu cho ngành tiểu thủ công nghiệp, chú đã đi tới tỉnh Đồng Nai công tác với tư cách là cán bộ Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. 

Khi xuống tỉnh Đồng Nai, chú trình giấy giới thiệu cho Sở Ngoại thương tỉnh, xin về khu vực có rừng để tìm và khai thác cây lá buông. Trên đường đi qua hai vùng Xuân Sơn và Bình Giã (bây giờ thuộc tỉnh Bà Rịa), chú nghe người dân địa phương nói ở đây có nhiều cây lá buông nên quyết định đi một chuyến tìm hiểu. Khi đến Xuân Sơn, chú đã gặp bốn người bị trói cả tay và chân nằm dưới đất. Lúc đó, mặc dầu có hai anh công an đi theo bảo vệ nhưng chú vẫn cảm thấy hơi sợ vì nghĩ rằng đó là tàn quân của Ngụy. Đến lúc hỏi thăm chú mới biết, những người này không phải là tàn quân mà chính là người dân ở đây. Vì họ trốn về thành phố mua thuốc sốt rét nên mới bị bắt trói như vậy. Chú T nói, đó là cảnh tượng đầu tiên làm cho chú phải suy nghĩ nhiều trong suốt chuyến đi công tác lúc đó.

chuyen-cai-dit-tron-dit-vuong-thoi-bao-cap-1

Một điều khác cũng làm cho chú suy nghĩ không kém trong chuyến công tác này là một cảnh tượng diễn ra vào ngày cuối cùng khi chú kết thúc việc tìm cây lá buông và rời Xuân Sơn. Chú kể lúc đó đi công tác về, khi chú lên xe thì tự nhiên bà con dạt ra hai bên để nhường ghế cho chú. Chú T không biết nguyên nhân vì sao người ta lại thể hiện sự tôn trọng chú như vậy. Tuy nhiên, sau một lúc suy nghĩ chú nhận ra nơi mình có một chút gì đó khác họ. Trong chuyến công tác đó, chú T  đội một cái nón cối mới, chân đi dép râu nhưng không phải dép thường mà là dạng dép đúc (do các anh trong Tổng công ty mây, tre, lá ở Hà Nội tặng). Chú lại nói giọng Bắc và có hai người đi theo bảo vệ. Bấy nhiêu căn cứ đó cũng đủ làm cho người ta nhầm tưởng chú là cán bộ ở ngoài Bắc vào. Rồi chú thấy tự nhiên người ta ném những bao như bao cát xuống trước mặt chú khi đến trạm kiểm soát. Chú T nói lúc đó chú không biết những bao này là bao gì. Khi mấy anh du kích hỏi “Cái này của chú hả?” chú cũng không dám nói. Nhưng nhìn thấy chủ nhân của mấy cái bao nhìn chú với ánh mắt van lơn, thì chú đã gật đầu nhận những bao đó là của mình, dù không biết điều gì sẽ xảy ra. Chú T nói, lúc đó khi gật đầu chú cũng chỉ dám gật nhè nhẹ chứ không dám gật mạnh. 

Đợt đó chú cũng vừa biết chuyện ông Đỗ Mười dưới Long An. Ông Đỗ Mười chỉ mới chở một ít tôm mà họ cũng không tha. Họ nói “Ông Đỗ Mười chứ ông Mười Một cũng bắt”. Nghĩ đến điều đó, chú T cảm thấy hơi lo nên chỉ dám gật đầu nhè nhẹ. May mắn là đội du kích lúc đó cũng lầm chú là cán bộ ngoài Bắc vào nên cũng dễ dàng cho qua. Điều đáng nói là sau khi chú đã đi khỏi trạm kiểm soát chừng 100 m, quay đầu lại chú thấy bà con quỳ xuống lạy chú. Chú rất ngạc nhiên vì mỗi người chỉ có một cái bao như bao cát mà tại sao họ lại tỏ ra cảm động như vậy. Về sau, chú mới biết những cái bao đó đựng các loại đậu đen, đậu xanh mà người dân đã trồng được. Chú T hiểu tại sao người ta lại quăng những cái bao đó xuống trước mặt chú và nhìn chú với ánh mắt van lơn, rồi sau khi vượt qua trạm kiểm soát họ lại lạy chú. Người ta muốn cám ơn chú vì nhờ chú mà hàng hóa của họ qua được trạm kiểm soát an toàn. 

Sự kiện này và cả sự kiện trước đó – thấy những người bị trói lại chỉ vì trốn vào thành phố để mua mấy viên thuốc sốt rét – đã được chú T viết lại theo yêu cầu của ông  Nguyễn Văn Linh. Chú viết những điều này để làm cơ sở cho yêu cầu được “đổi mới”, điều mà sẽ được bàn đến trong Đại hội Đảng lần VI. 

Trong quá trình mô tả về hai sự kiện diễn ra trước mắt mình trong chuyến công tác, chú T đã phân tích để thấy được việc cần thiết phải bãi bỏ các trạm kiểm soát như thế nào. Chú T đặt một câu hỏi lớn cho nền kinh tế nước nhà lúc bấy giờ là “Ai giết ta?”. Và những cảnh tượng đang diễn ra trước mắt chú nói cho chú biết rằng: “Không ai giết ta cả mà là tự ta, ta giết ta”. Khi nhìn thấy người dân có thể làm ra các sản phẩm nông nghiệp nhưng không có cách nào mang ra khỏi ấp của mình để trao đổi với các loại hàng hoá khác, chú hiểu rằng nền kinh tế của nước ta và người dân của ta đang đi vào con đường chết. Người dân trồng ra được đậu xanh, đậu đen, ngô, sắn,… Họ cần phải đem về Sài Gòn bán lấy tiền mua những thứ khác như đồ ăn, thức uống, thuốc men,… Họ cần phải sống với những trao đổi cơ bản đó. Tuy nhiên, những trạm kiểm soát của nhà nước được dựng lên đã cản trở tất cả những điều đó. Người ta làm ra sản phẩm rồi để đó hoặc bán cho nhà nước với giá rất thấp. 

Chú T nói ngày đó nếu ai có thể mang đậu xanh vào thành phố Hồ Chí Minh bán, họ có thể bán một ký đậu với giá năm đồng. Nhưng nếu bán cho nhà nước, họ chỉ nhận được khoảng năm cắc, hai hào và mấy xu. Với giá mua này, không ai có thể sống nổi nếu không nhận được thêm một sự trợ cấp nào khác. Làm sao để đem được hàng  ra khỏi cái ấp của mình? Phải qua bao nhiêu trạm kiểm soát mới có thể đưa hàng về thành phố? Người dân lúc bấy giờ loay hoay với hàng hoá và những nhu cầu sống thiết yếu của mình. Việc “ngăn sông cấm chợ” không sớm thì muộn cũng làm cho lòng dân nổi giận. Chú T nói đó là lí do vì sao trong thời gian đó các vụ bắn phá trạm kiểm soát xảy ra thường xuyên, làm chết không biết bao nhiêu người. Nên việc cứu sống dân cũng là cứu sống nền kinh tế nước nhà. Theo chú T, nhà nước cần phải bãi bỏ ngay các trạm kiểm soát.

Bản thân tôi không sống vào thời đó để  trực tiếp thấy cảnh “ngăn sông cấm chợ” gây khó khăn cho người dân như thế nào. Tuy nhiên, với những câu chuyện được nghe chú T kể, tôi cảm thấy rằng: sau dấu mốc vĩ đại của ngày 30/4/1975 như dấu chứng của sự thống nhất đất nước, có lẽ Việt Nam cần được thống nhất thêm nữa về thị trường. Sự thống nhất mà tôi muốn nói tới là việc cần thiết phải phá bỏ các trạm kiểm soạt để không còn sự ngăn cách giữa ấp này với ấp khác hay giữa các tỉnh thành với nhau nữa. Chỉ phá bỏ việc “ngăn sông cấm chợ” lúc bấy giờ, Việt Nam mới có thể nói được rằng mình đã được thống nhất một cách thật sự.

Đời sống kinh tế thời bao cấp ở miền Nam – Từ giấy nhám đến đá mài cho máy chà gạo (Kỳ 3)

Chú T kể, ngày xưa khi chưa có các loại máy xay gạo như bây giờ, người ta thường dùng máy chà gạo. Tuy nhiên, muốn sử dụng được loại máy này thì phải có đá mài. Ngày trước giải phóng, Việt Nam thường nhập đá mài ở Hà Lan. Sau giải phóng, trong tình trạng “bế quan tỏa cảng” của đất nước, các cơ sở sản xuất gạo không nhập được đá mài. Các cối máy chà gạo ngưng hoạt động. Lúa do người nông dân sản xuất ra không thiếu nhưng không có cách nào làm cho nó trở thành gạo.
Gạo từ nhà máy xay xát ở Tân An được đưa đến điểm bán  ở Củ Chi (TP.HCM) tháng 7-1985
Gạo từ nhà máy xay xát ở Tân An được đưa đến điểm bán  ở Củ Chi (TP.HCM) tháng 7-1985
 
Đối mặt với bài toán nan giải, chú T tiếp tục suy nghĩ giải pháp và bài toán hóc búa đó thật sự đã được giải khi chú nghĩ ra đá mài cho các máy chà gạo. Chú cho biết thành công của đá mài thực ra chỉ là một bước tiếp theo của việc chú chế tạo thành công bột sắt cho giấy nhám trước đó. Chú mày mò với với các hợp chất oxit nhôm được mài từ lon coca. Bột mịn chú dùng làm giấy nhám phục vụ cho ngành tiểu thủ công nghiệp còn loại đá to thì để dành làm đá mài sử dụng trong các máy chà gạo. Thành công này tuy chỉ là một sự kéo theo của việc chế tạo giấy nhám nhưng đối với việcsản xuất gạo lúc bấy giờ có một ý nghĩa thật to lớn.
 Tuy nhiên, thành công này cũng đem đến cho bản thân chú T không ít rắc rối. Từ khi chế tạo thành công đá mài, Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh dùng chú T như trung gian để trao đổi với các tỉnh khác. Thông qua chú T, người ta trao đổi với nhau gạo và đá mài. Vì đá mài lúc đó là hàng độc quyền nên dù như thế nào thì Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh cũng dễ ép các tỉnh khác thực hiện theo ý mình. Những người sản xuất gạo ở các tỉnh khác cần đá mài để có thể tiếp tục duy trì hoạt động. Nếu không có đá mài thì các cối chà gạo xem như đồ bỏ đi, không chà gạo được nữa. Vì nhu cầu của mình, các nhà sản xuất gạo ở các tỉnh khác thường chấp nhận sự trao đổi theo điều kiện của Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh. Ngược lại, về phía mình, quận Bình Thạnh luôn cố gắng trong việc giữ chú lại vì họ biết rằng nếu không có chú T thì các tỉnh khác không cần họ nữa. Chú T cho biết hồi đó mấy ông này đa nghi, sợ người ta bắt cóc chú nên mấy ông cho người canh chừng chú. Chú T nói đến cả việc đi đứng của mình  mà cũng luôn bị giám sát. Chú T kể chú ngồi uống cà phê ở đầu đường cũng bị mấy anh công an đứng xa xa quan sát. Mình ngồi trong nhà thì cũng có hai người ngồi ngoài trước cửa canh chừng. Chú T biết họ chỉ muốn bảo vệ chú khỏi bắt cóc thôi chứ không có ý gì, nhưng sự giám sát của họ làm chú mất tự do. Chú không đi đứng, không làm ăn riêng được cái gì hết.

Đời sống kinh tế thời bao cấp ở miền Nam – Khó khăn của ngành thủ công nghiệp (Kỳ 2)

Quyết tâm dùng tre, nứa, lá buông để xây dựng lại đất nước

Lúc bấy giờ, tại thành phố Hồ Chí Minh, ngành thêu và ngành may được xem là ngành tiểu thủ công nghiệp chủ yếu. Công việc chủ yếu của hai ngành này là làm gia công cho Liên Xô. Trong khi đó, các mặt hàng mây, tre, nứa không được chú ý và phổ biến, một phần vì không có nguyên vật liệu. Để khắc phục tình trạng này, chú T đã bỏ thời gian để lên rừng tìm hiểu về cây lá buông. Chú cho biết, sở dĩ ngành tiểu thủ công nghiệp ở ngoài Bắc phát triển được là nhờ có cây cọ. Ở miền Nam không có cây cọ thì cây lá buông là một trong những cách thay thế tốt nhất. Lúc đầu, người miền Nam chưa biết sử dụng cây lá buông. Tuy nhiên, sau quá trình chú T tự mày mò tìm hiểu và áp dụng thành công cây lá buông trong việc làm ra các sản phẩm thủ công nghiệp, loại cây này được đưa vào sử dụng ngày càng phổ biến hơn.

(Ngành mây, tre, đan, Nguồn: Internet)
(Ngành mây, tre, đan, Nguồn: Internet)

Trong thời gian đầu, cây lá buông trở thành một trong những nguyên liệu quan trọng nhất trong việc sản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp. Về sau, khi được báo Sài Gòn Giải phóng hỏi về những nỗ lực của chú T trong việc tìm và sử dụng cây lá buông, chú nói: “Ngày xưa, tổ tiên cha ông chúng ta đã dùng tầm vông vuốt nhọn để đánh giặc thì bây giờ mình cũng phải bắt đầu lại với việc dùng tre, nứa, tầm vông để xây dựng lại đất nước”. Lời tuyên bố đó đã trở thành một động lực để chú cống hiến hết khả năng của mình cho ngành tiểu thủ công nghiệp mây, tre, lá. Với thành công bước đầu đó, ngành thủ công nghiệp ở miền Nam đã khởi sắc hơn rất nhiều, đặc biệt trong việc giải quyết được công  ăn việc làm cho người dân thành phố. Các sản phẩm được làm từ cây lá buông đến tre, nứa, lồ ô ngày càng đa dạng. Một  số các mặt hàng chủ yếu thời bấy giờ có thể kể đến như quai chai (quai dùng để đựng rượu), mũ nón, các kiểu thảm loại lớn, nhỏ, mành thưa, các loại sọt, bồ đựng trái cây,… cho đến bàn ghế mây và các hàng thủ công mỹ nghệ. Giải quyết được vấn đề nguyên liệu là một bước rất quan trọng trong việc vượt qua khó khăn ban đầu của ngành thủ công nghiệp miền Nam lúc bấy giờ.

Trong cái khó, ló cái khôn

Khó khăn của ngành tiểu thủ công nghiệp không chỉ dừng lại ở việc thiếu nguyên vật liệu mà còn liên quan đến cả một quy trình  từ sản xuất cho đến bảo quản sản phẩm mà ngành đã làm ra.

Trong quá trình sản xuất thủ công nghiệp, giấy nhám, vecni và keo dán  là những thứ rất quan trọng. Chú T kể rằng: ngày đó vì chất lượng sơn và keo dán không được đảm bảo đã làm cho các lô hàng xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài trở nên kém chất lượng và bị trả về. Việc làm ăn với các nước gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều hợp đồng bị “bể” chỉ vì hàng của Việt Nam làm không đạt chất lượng. Lớp sơn của mành trúc bị đóng cục, dính lại với nhau do không khí nóng trong quá trình đóng thùng vận chuyển là một ví dụ. Ngoài ra, các loại keo dán mà chúng ta sử dụng cũng gặp vấn đề với không khí lạnh của các nước phương Tây. Các mặt hàng thủ công nghiệp của Việt Namkhi mang ra nước ngoài trở nên giộp, giòn, cong lên và tự  động bung ra hết.

Đứng trước những khó khăn đó, để cứu ngành tiểu thủ công nghiệp khỏi nguy cơ có thể phá sản do hàng hoá không đạt chất lượng, chú T đã  bắt đầu lao vào nghiên cứu để tìm giải pháp cho vấn đề này. Vốn là cử nhân hoá tốt nghiệp ở trường đại học y, chú T đã chế tạo thành công được keo dán. Theo lời chú kể, khi chế tạo thành công được keo, chú tiếp tục thành công trong việc chế tạo giấy nhám. Chú kể rằng, để làm giấy nhám, hồi đầu, chú dùng nguyên liệu là đá thạch anh. Chú xay đá thạch anh ra làm cát cho giấy nhám. Sau đó, vì thấy hiệu quả không được như mong muốn, chú tiếp tục với việc nghiên cứu oxit nhôm để làm bột mài cho giấy nhám. Lúc bấy giờ, chú chế ra thứ  bột mài này từ những lon coca phế thải được thu gom từ các bãi rác ở Long Bình. Trong bài báo “Sống Tin Mừng trong lòng dân tộc” in trong báo Thanh niên số xuân năm 1990 đã viết về chú T cùng với sự kiện này như sau: “Năm 1981, anh bắt đầu thấy ngành mây tre lá sẽ gặp phải một trở ngại lớn vì thiếu keo dán, vecni, và giấy nhám nên khó bề cạnh tranh với hàng Đài Loan trên thị trường. Anh xin nghỉ việc để tập trung thì giờ để nghiên cứu sản xuất các vật tư kĩ thuật này. Cơ sở sản xuất Hồng Việt  được thành lập để vừa sản xuất vừa thử nghiệm…. Hơn sáu năm gắn bó với nhà máy, sản phẩm ngày càng được cải tiến.” Với thành công này, chú T một lần nữa giúp ngành tiểu thủ công nghiệp miền Nam vượt qua khó khăn. Đồng thời, thành công này cũng mở ra cơ hội cho một ngành khác phát triển đó là ngành sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm làm bằng gỗ.

Về tất cả những thành công này, chú T nói rằng một phần có được là do điều kiện khó khăn của thời bao cấp. Chính cái điều kiện không hề có một chút thuận lợi cho việc sản xuất ấy đã liên tục thúc ép mình phải không ngừng sáng tạo để xoay sở kiếm sống. Thời  kì bao cấp đối với bản thân chú T là một thời kì đánh dấu những khám phá rất hay của sự mày mò, sáng tạo. Đồng thời, thời kì này còn ghi nhận những nỗ lực vượt lên khó khăn của con người Việt Nam thời bấy giờ.