Content marketing- thời thượng nhưng có “dễ xơi”

Như bao xu hướng nghề nghiệp rình rang trong xã hội, các bạn trẻ – và thậm chí là những người đang làm trong ngành Marketing tại nhiều Agency và Brand lớn – đều nhắc đến Content Marketing như một khái niệm “thời thượng”. Nhưng nếu hỏi ra, chắc phải có đến 9/10 người hiểu sai về khái niệm này.

Vậy Content Marketing là gì?

Theo Content Marketing Institute, Content Marketing là cách tiếp cận chiến lược tập trung vào việc xây dựng (create) phân phối (distribute) những nội dung có giá trị (valuable) một cách nhất quán (consistent)phù hợp (relevant) để thu hút và giữ chân những khán giả mục tiêu (target audience) cho thương hiệu. Mục tiêu cuối cùng của Content Marketing là chiếm lĩnh lòng tin của khách hàng để dẫn dắt và thay đổi hành vi của họ nhằm xây dựng hình ảnh và mang lại lợi nhuận (profit) cho thương hiệu. Như vậy, một chiến dịch nội dung thành công cần phải bao gồm tất cả những điểm như trên.

Cho nên, dù Content Marketing chú trọng đến phát triển nội dung hấp dẫn và thu hút khách hàng (execution), thì vẫn cần xuất phát từ một định hướng chiến lược nhất định (content strategy).

Content Marketing đâu đơn thuần là viết post Facebook!

Nhiều bạn trẻ, kể cả người lăn lộn 1-2 năm trong ngành, vẫn lầm tưởng việc làm content chỉ gói gọn trong những status trên Facebook; đó chỉ là một phần khá nhỏ của khâu execution thuộc bề nổi của toàn bộ chiến dịch nội dung. Status trên Facebook là Content Marketing, nhưng Content Marketing không chỉ có Facebook.

Hình minh họa
Content Marketing không chỉ có Facebook.

Thực tế, ai một khi đã bước chân vào nghiệp Marketing thì cũng phần nào “dính dáng” đến Content Marketing. Nhưng chính vì sự hiểu biết phiến diện về khái niệm này, ít ai có thể khai thác được tối đa tiềm năng của nó. Một Content Marketer để thành công, ngoài khả năng viết nhuần nhuyễn, còn cần phải ghi nhớ 3 điều cơ bản sau đây:

  1. Thấu hiểu khán giả mục tiêu, từ đó phát triển chiến lược nội dung phù hợp.
  2. Xây dựng câu chuyện đủ “sức nặng” để tạo ấn tượng tốt cho thương hiệu.
  3. Phân phối nội dung đó đến những kênh phù hợp và đo lường hiệu quả.

Khi Content Marketing đã len lỏi vào khắp mọi khía cạnh của Tiếp thị và Truyền thông, hãy hiểu đúng về nó để chinh phục nhà tuyển dụng và khách hàng. Đừng chần chờ, hãy nắm ngay cơ hội học hỏi kinh nghiệm và kỹ năng từ những Director đầu ngành của các agency và công ty giải trí hàng đầu như AVC Edelman, Mirum hay YAN Group.

Với kinh nghiệm dày dặn qua những chiến dịch truyền thông hấp dẫn cho các thương hiệu đa quốc gia như Unilever, Diageo, Samsung hay Pepsi, họ sẽ giúp bạn cập nhật những xu hướng Content Marketing mới nhất trên thế giới cùng các case study kinh điển.

 Chúc các bạn thành công.

Theo aimacademy

Bảo vệ thương hiệu: Đừng để mất bò vẫn chưa lo làm chuồng

Thông tin hãng kẹo nổi tiếng nước Mỹ lệnh thu hồi sản phẩm trên 55 nước chỉ một ngày sau khi có tin phát hiện dị vật trong sản phẩm của mình đã gây chú ý toàn thế giới.

Cách thức giải quyết kể trên, một lần nữa, lại khiến nhiều người tiêu dùng Việt cảm thấy… tiếc nuối.

Thương hiệu không đơn thuần là một cái tên. Thương hiệu là tài sản vô hình nhưng mang giá trị. Giá trị đó được gây dựng trong cả một quá trình dài. Rất nhiều bài học đã được đưa ra nhưng dường như vẫn chưa đủ để cảnh tỉnh các doanh nghiệp Việt Nam.

Thông tin mới đây liên quan đến nhãn hàng trà Ô long TEA + Plus một lần nữa dấy lên bàn tán trong giới “làm thương hiệu” tại Việt Nam.

 

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Liên quan đến vụ việc này, Cục An toàn thực phẩm Bộ Y tế đã có buổi làm việc với công ty Suntory PepsiCo Việt Nam và yêu cầu giải trình về hoạt chất OTPP được quảng cáo trong trà Ô long TEA + Plus. Trước đó, sau khi xuất hiện nghi vấn Trà Ô Long TEA+ Plus quảng cáo chất lượng Nhật Bản nhưng nhập nguyên liệu bột ô long từ Trung Quốc, Cục An toàn Thực phẩm cho biết đã gửi công văn tới Công ty Suntory Pepsico Việt Nam và yêu cầu công ty giải trình rõ ràng về sản phẩm Trà Ô long TEA+ Plus.

Trong văn bản báo cáo với Cục An toàn thực phẩm, Suntory Pepsico Việt Nam thừa nhận dùng nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc.

Bàn về vấn đề này, nhiều chuyên gia về thương hiệu cho rằng, từ những sự việc “con ruồi nghìn tỷ”, ô mai “dính” đường hóa học… đến sự việc này càng cho thấy bài học lớn về xây dựng, bảo vệ thương hiệu.

Theo một chuyên gia kinh tế: Một thương hiệu muốn ăn sâu vào lòng công chúng, doanh nghiệp cần hàng chục năm, thậm chí nhiều chục năm mới làm được. Nhưng thời đại truyền thông số, thị trường là sân chơi phẳng chỉ cần 1 ngày, thậm chí 1 giờ sau khi xuất hiện sự cố, thương hiệu đó có thể sụp đổ ngay lập tức.

Thương hiệu không đơn thuần là một cái tên. Thương hiệu là tài sản vô hình nhưng mang giá trị. Giá trị đó được gây dựng trong cả một quá trình dài.

Chuyên gia thương hiệu Th.S Đặng Thanh Vân cho hay: Trên thực tế, các thương hiệu lớn về ngành hàng thực phẩm đồ uống, dược phẩm vẫn thường xuyên phải đối mặt với vấn đề khủng hoảng truyền thông. Rất nhiều hãng lớn, tập đoàn xuyên quốc gia đã từng gặp phải vấn đề về truyền thông đối với người tiêu dùng. Ngay cả với những tập đoàn lớn, kiểm soát được an toàn thực phẩm là không dễ dàng và chỉ một sai lầm nhỏ, dù vô tình hay hữu ý có thể phá hủy cả một doanh nghiệp.

“Tuy nhiên, câu chuyện dị vật của một đơn vị đồ uống hay đổ lỗi kỹ thuật sử dụng đường hóa học trong đồ ăn lại thành bài học đắt giá khi cố tình lảng tránh và đổ lỗi cho những quy trình, kỹ thuật hay công nghệ”, bà Đặng Thanh Vân nói.

Bàn về vấn đề này, một chuyên gia kinh tế từng nhiều năm tham gia tư vấn thương hiệu doanh nghiệp nhấn mạnh, với một nền kinh tế thị trường hoạt động đa dạng như hiện nay, người tiêu dùng đương nhiên có nhiều cơ hội để chọn lựa cho mình những sản phẩm phù hợp nhất và theo họ là tốt nhất.

Điều đó cũng có nghĩa nhà sản xuất phải chấp nhận một cuộc cạnh tranh khắc nghiệt và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro để xây dựng và bảo vệ thương hiệu của mình. Câu chuyện này lại đặc biệt trở nên khắc nghiệt với những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm, đồ uống…

“Nói cụ thể hơn thì thế này, giữa hàng chục sản phẩm thép xây dựng, sự vượt trội của loại này so với loại khác cũng khó tác động mạnh mẽ, tức thời tới tâm lý người tiêu dùng.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

 

Nhưng với mặt hàng thực phẩm thì hoàn toàn khác, bởi nó liên quan trực tiếp tới sức khỏe, đời sống mỗi người. Cũng bởi vậy, rủi ro trong cạnh tranh, xây dựng thương hiệu là rất khắc nghiệt. Chỉ một dòng ghi sai hàm lượng, người tiêu dùng sẵn sàng nghi ngờ cả nhãn hàng sản phẩm, chỉ vì dấu cặn “trên trời rơi xuống”, người tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ thói quen tưởng như rất “son sắt”… Chuyện một thương hiệu bị đánh sập chỉ sau một sự cố như vậy không ít. Vậy phải giải quyết bài toán này ra sao? Câu trả lời luôn luôn đúng là bám sát thị trường và minh bạch với người tiêu dùng”.

Về vấn đề này, Th.s Đặng Thanh Vân đặt vấn đề: “Nhiều người đặt câu hỏi, tại sao hãng bánh kẹo nổi tiếng Mỹ (Mars), sau khi một khách hàng người ở Đức phát hiện miếng nhựa nhỏ màu đỏ bên trong thanh kẹo Snickers mà anh này ăn, đã phải ngay lập tức ban hành lệnh thu hồ các sản phẩm tại 55 quốc gia.

Tại sao các hãng ô tô lớn thế giới chịu nhiều tổn thất mà vẫn ban bố lệnh thu hồi, sửa chữa các xe ô tô bị lỗi trên toàn cầu. Tại sao cuộc đấu tranh của Apple chống việc cơ quan điều tra liên bang Mỹ đòi quyền truy cập vào phần mềm chiếc điện thoại Iphone của kẻ khủng bố tại Mỹ được người dân Mỹ và người sử dụng điện thoại thế giới ủng hộ. Rõ ràng, đứng về lợi ích thị trường, khách hàng thì doanh nghiệp sẽ luôn vượt qua và giành thắng lợi”.

Theo dân trí

Xu hướng digital marketing 2016: “Thời khắc thứ zero”

Bất động sản, phân phối thuốc là những lĩnh vực tưởng không liên quan đến thương mại điện tử, nhưng những người làm marketing trong lĩnh vực này lại đang rất quan tâm đến xu hướng digital marketing 2016. Vì sao?

“Công ty của tôi kinh doanh bất động sản, làm sao để xác định được xu hướng khách hàng?”; “Chúng tôi phân phối thuốc cho Tập đoàn DKSH (Thụy Sĩ), làm thế nào sử dụng digital marketing hiệu quả?”… Đó chỉ là hai trong số hàng chục câu hỏi được đại diện các doanh nghiệp nêu ra tại Tọa đàm “Thấu hiểu khách hàng trong kỷ nguyên số” vừa diễn ra tại TP.HCM.

Ông Nguyễn Hải Triều -TGĐ Công ty YouNet Media cho rằng, trong bối cảnh bùng nổ thông tin, những ngành đặc thù như dược cũng có thể sử dụng mạng xã hội để quản trị khủng hoảng. Hoặc ngược lại, người làm marketing trong lĩnh vực dược phẩm có thể dùng mạng xã hội để biết được mọi người đang quan tâm đến bệnh gì.

Hình minh họa
Hình minh họa

Chẳng hạn, nếu quan tâm nhiều đến bệnh viêm khớp, doanh nghiệp sản xuất thực phẩm chức năng có thể sản xuất thêm các loại thuốc giúp tăng sụn khớp, đánh vào nhu cầu để có thêm khách hàng mới. Ngoài ra, có thể tận dụng mạng xã hội để làm truyền thông, giới thiệu dịch vụ mới của phòng khám, bệnh viện; tạo diễn đàn để mọi người thảo luận, qua đó, để xem họ quan tâm, lo lắng về bệnh tật ra sao…

Đối với lĩnh vực đặc thù khác là bất động sản, theo ông Nguyễn Hải Triều, qua các công nghệ số, có thể nghiên cứu được xu hướng, phân khúc nào mọi người đang quan tâm; cũng như khu vực nào đang được chú ý. Thông qua các thảo luận ở các trang mua bán bất động sản, họ sẽ hỏi mua bán ở vùng nào nhiều, dự án nào đang được quan tâm…

Trong khi đó, ở các lĩnh vực kinh doanh khác như hàng điện tử, công nghệ, gia dụng,… bán hàng online hay offline gần như là một, chứ không còn tách bạch rõ như trước nữa.

Ông Đỗ Hải – Phó giám đốc Công ty EQVN giải thích, Google gần đây đã đưa ra khái niệm mới về nghệ thuật bán hàng “Thời khắc thứ zero”.

“Bây giờ, quyết định mua hàng đã được khách hàng thực hiện tại nhà, họ xem trước thông tin về món đồ cần mua ở trên mạng và ra quyết định, khi tới cửa hàng chỉ mua đồ và đi về, người bán hàng khỏi giải thích”, ông Hải cho biết và khuyên doanh nghiệp muốn bán hàng thì phải biết “mai phục” khách hàng từ trên mạng. Những cửa hàng trang trí lung linh, treo băng rôn, nhân viên lộng lẫy sẽ gần như vô nghĩa khi có vô số những comment (bình luận) theo chiều hướng tiêu cực.

Hình minh họa
Hình minh họa 

“Tôi định mua một chiếc smartphone mới vì thấy quảng cáo ở trên tivi, báo chí dữ quá. Nhưng khi tôi lên mạng tìm kiếm thông tin về sản phẩm và so sánh thì không quan tâm nữa. Vậy, bao nhiều tiền đổ cho quảng cáo, dù có các đại sứ thương hiệu tên tuổi cũng không còn giá trị…”, ông Đỗ Hải giải thích thêm.

Như vậy có thể thấy “thời khắc thứ zero” là cực kỳ quan trọng trong thời buổi bùng nổ thông tin hiện nay. Nó sẽ chiếm lĩnh không gian marketing, cũng như giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng, thông qua phản hồi trên mạng về sản phẩm. Điều này đòi hỏi những người làm marketing phải bằng mọi cách tạo được hình ảnh tốt về thương hiệu và sản phẩm ngay “thời khắc thứ rezo”.

Một xu hướng digital marketing mới được ông Đỗ Hải chia sẻ, là hiện nay người ta “lười đọc” hơn trước. Vì vậy, các doanh nghiệp nên chú ý đến những video clip hướng dẫn, tư vấn về sản phẩm, sau đó giới thiệu clip lên mạng xã hội Facebook hoặc YouTube. Nếu như Facebook giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng trong ngày, thì YouTube sẽ giúp doanh nghiệp tương tác với những khách hàng tiềm năng lâu dài hơn.

Nguồn: doanh nhân Sài Gòn

Một số thuật ngữ ngành PR

Press release/News release: Thông cáo báo

Media kits/press kits: Những tài liệu thường đính kèm thông cáo báo chí để hỗ trợ thông tin cho thông cáo báo chí, dành để gửi cho phóng viên. Bao gồm tiểu sử công ty, giới thiệu về sản phẩm, hình ảnh hoạt động, hình ảnh sản phẩm…Người ta cũng có thể đưa media kits lên website của công ty cho phóng viên tiện truy cập và sử dụng.

Letter to editor : Thư ngỏ, thường gửi cho tổng biên tập, phóng viên, biên tập viên…Người ta thường gửi thư ngỏ kèm thông cáo báo chí. TRong thư ngỏ giới thiệu sơ qua về bản thân, công ty, sản phẩm, dịch vụ, sự kiện sắp diễn ra hoặc sự kiện cần đưa tin , viết bài. Thường là phải nêu 1 số lý do thuyết phục toà soạn đăng bài, chẳng hạn như đây là sự kiện nóng hổi mà bất cứ độc giả nào của quý báo cũng quan tâm.Đôi khi ngươời ta còn gọi đây là Cover letter.

Hình minh họa
Hình minh họa

Press conference: Buổi họp báo, các công ty thường tổ chức họp báo khi sắp sửa tung SP mới, khi cty gặp khủng hoảng cần đưa tuyên bố chính thức của cty  ra dư luận..

Media list: Danh sách truyền thông. Để thông điệp của cty tiếp cận đúng đối tượng khán giả mục tiêu, người làm PR cần khoanh vùng các phương tiện truyền thông , báo chí thích hợp trong 1 danh sách.

Press cliping service: Tạm dịch là dịch vụ thu thập thông tin. KHi công ty muốn nắm tin tức hàng ngày từ các phương tiện truyền thông, thì thường lựa chọn hình thức “nhờ đọc tin tức dùm”. Các công ty cung cấp dịch vụ này sẽ gửi đến cty những bản scan, bản copy các bài báo theo những thông tin mà cty yêu cầu. Nhờ những thông tin này, không cần mua báo về và tốn thời gian đọc, cty vẫn có thể nắm bắt nhanh nhạy các thông tin về cty và đưa ra hành động ứng phó kịp thời nếu đó là tin xấu
Advertorial: Những bài báo thương mại, là khái niệm chỉ việc cty mua trang trên các báo để đưa những thông tin mình cần đưa. Các công ty thường trình bày advertorial theo   phong cách một bài báo thông thường, đôi lúc thông tin “trông có vẻ” khách quan để tăng sức thuyết phục, khác với hình thức quảng cáo là công khai tung hô về mình.(Tuy nhiên 1 số bài advertorial trên báo chí VN hiện nay đọc vào là biết có mùi quảng cáo, cái đó thì miễn bàn ở đây).

Above the line campaign: 1 chiến dịch marketing chỉ dùng quảng cáo

Below the line campaign: 1 chiến dịch marketing ko dùng quảng cáo, thay vào đó là các hình thức xúc tiến khác như PR, marketing trực tiếp, khuyến mãi…

Sector/trade press: tạm dịch là báo chí dành cho các đối tượng độc giả chuyên biệt, ví dụ tờ Ô tô việt Nam dành cho đối tượng độc giả là những người quan tâm đến ô tô như người SX, buôn bán  ô tô, người mê ô tô…

Teaser: Hoạt động lôi kéo sự chú ý, tò mò của khán giả trước 1 chiến dịch PR.

 

Internet Viral Marketing từ A tới Z (phần 3)

Nghiên cứu người dùng và nắm bắt những xu hướng sử dụng Internet ở Việt Nam để ứng dụng làm Online Viral Marketing sẽ giúp người làm marketing có được những chiến dịch Viral mang đúng nhịp thở của cư dân mạng – khách hàng tiềm năng của mình.

Dưới đây người viết xin điểm qua một số xu hướng đang nổi bật ở cộng đồng mạng Việt Nam:

1. Người miền Bắc yêu thích Social Media hơn người miền Nam

Tuy rằng số người sử dụng Internet ở cả hai miền đang tương đương nhau nhưng trên các mạng xã hội, diễn đàn, trang chia sẻ trực tuyến… những cư dân mạng đến từ miền Bắc vẫn đang áp đảo.

Người miền Bắc thường xuyên online, viết blog hơn, họ tham gia đóng góp nội dung cho các diễn đàn nhiều hơn, buôn bán trên mạng cũng xôm tụ hơn người miền Nam. Có một vài lý do cắt nghĩa cho hiện tượng này, trong đó thuyết phục nhất là hai lý do: Một là người miền Bắc giỏi về diễn đạt bằng ngôn từ hơn nên họ tự tin vào khả năng thảo luận, viết lách của mình hơn, và hai là người miền Bắc có nhu cầu thể hiện bản thân, xây dựng hình ảnh cá nhân nhiều hơn người miền Nam.

Với xu hướng này, người làm Viral Marketing có thể phác thảo ra những ý tưởng, cách thực hiện phù hợp nhất dựa trên tính chất đặc trưng của con người mỗi vùng: Một cuộc thi viết lách, sáng tạo tác phẩm… tổ chức ở miền Bắc sẽ đông người tham gia hơn miền Nam trong khi các trò chơi, cuộc thi mang nhiều yếu tố may mắn như tham gia để trúng iPhone/Laptop, nhận mã số may mắn để rinh hàng giảm giá… sẽ khiến cộng đồng cư dân mạng miền Nam tích cực vận động nhau tham gia.

2. Forum thắng thế, Micro Blog vẫn lép vế

Nếu như các dịch vụ Micro Blog như Twitter đang làm điên đảo cả thế giới thì ở Việt Nam dân tình vẫn coi như chưa có gì xảy ra. Sau Yahoo 360, hiện tại đối với người Việt Nam dường như Facebook đã là quá đủ.

Ngược lại, nếu như trào lưu diễn đàn đã qua lâu trên thế giới và hiện giờ nó đang lép vế dần so với hình thức mạng xã hội thì ngược lại, ở Việt Nam forum vẫn đang làm mưa làm gió. Một số diễn đàn là nơi thảo luận của một đối tượng nào đó như phụ nữ (webtretho, lamchame…), teen (hihihehe, truongton…), sinh viên

(ngoinhachung,kenhsinhvien…), một số là nơi trao đổi những vấn đề chuyên môn như tin học (ddth, vn-zoom), công nghệ (tinhte, handheld) hoặc là nơi gặp gỡ của những sở thích như ô tô, xe máy (otofun, bikervietnam), nhiếp ảnh (vnphoto, xomnhiepanh), hip hop (viethiphop)… Những diễn đàn lớn là nơi vào ra của hàng triệu thành viên là đích ngắm của nhiều nhà quảng cáo, viral marketing trực tuyến, phổ biến nhất là treo banner quảng cáo, đặt box riêng, đặt sticky post, làm forum seeding…

3.  Facebook càng bị chặn, netizen càng tìm cách vào

Sau khi Yahoo 360 bị công ty chủ quản Yahoo dẹp bỏ, Facebook trở thành một “hiện tượng” tại Việt Nam, và mạng xã hội đặt trọng tâm vào tính chất kết nối con người (people-centric) này tăng nhanh số lượng người sử dụng đến chóng mặt.

Facebook có cho phép tạo Fan Page và đây đã trở thành nơi quảng bá thương hiệu và tổ chức các online campaign cực kỳ tốt cho các nhà Digital Marketing. Nhờ cộng đồng đông đảo, những cuộc thi, event… được tổ chức trên Fan Page đều thu hút được rất nhiều người quan tâm, và được lan truyền mạnh nhờ những đợt tổng vận động Like, comment… của người dự thi đối với bạn bè, người thân và cả những người không quen biết trên Facebook.

Hình minh họa
Hình minh họa

Nhưng có vẻ như Facebook đang bị những nhà quản lý chính quyền “hắt hủi” vì nhiều lý do còn đang gây tranh cãi, việc vào Facebook ngày càng khó khăn hơn. Nhưng chỉ cần search những cụm từ như “không vào được Facebook”, “vào Facebook không bị chặn”… sẽ thấy hằng ha sa số các bí kíp xóa bỏ chặn do cư dân mạng truyền tay nhau. Vì vậy càng bị chặn, những người dùng Facebook ở Việt Nam lại càng cố gắng tìm cách vào được Facebook, tuy nhiên vẫn có khá nhiều người low-tech (thuật ngữ cư dân mạng dùng để chỉ những người không giỏi công nghệ, chơi chữ từ hi-tech) đành ngậm ngùi từ bỏ cuộc chơi. Chính vì sự suy yếu đáng kể của Facebook ở , các nhà marketing Việt Nam đang đau đầu suy tính xem nên tiếp tục các chiến dịch viral marketing hay online campaign ở Facebook hay là lập microsite của riêng mình.

5. Nhiều mạng xã hội của Việt Nam ngày càng cải thiện vị trí

Nhờ cơn lao đao của Facebook, nhiều MXH Việt Nam có cơ hội được cư dân mạng “để mắt” đến nhiều hơn. Trong giới teen, MXH Zing Me ngày càng trở nên phổ biến trong khi đó Yume.vnđang đứng đầu trong những mạng xã hội tại Việt Nam ở phân khúc tuổi từ 18 -25 (theo thống kê của Google Ad Planner), Hẹn Ăn Trưa, Tầm Tay hay Nối… từ lâu đã là nơi “xây nhà” của nhiều dân văn phòng. Goonline của VTC là MXH được sản xuất theo “đơn đặt hàng” của phía Nhà nước nhằm tạo ra một MXH “trong sạch” cho thế hệ trẻ, nhờ sự chống lưng của nhiều cơ quan chức năng, cũng đang lớn mạnh đáng kể.

Các nhà quảng cáo cũng đang xem xét việc chuyển chiến dịch marketing của mình từ Facebook qua các MXH Việt Nam như Yamaha tổ chức cuộc casting “CUXI Girls” trên trang Cyworld.

6. Những Net Idol của năm

Don Nguyễn – một nhân vật nổi lên từ trào lưu hát nhép, tiếp tục làm mục tiêu săn đón của nhiều chuyên giaviral marketing. Những clip hài hước của Don được người dùng mạng send link cho nhau hoặc post lên các diễn đàn một cách đầy phấn khích. Không mời được Don quảng cáo, nhiều công ty còn ăn theo Don như trường Anh ngữ Apollo với clip “DON hút me” nổi bật trênNhaccuatui.com với chữ DON cố tình được viết in hoa cũng khiến nhiều người lầm tưởng là tác phẩm của Don và tò mò truy cập vào.

Bên cạnh đó, cái tên Hồ Ngọc Hà, Uyên Linh xuất hiện dày đặc trên báo, trang tin mạng… làm cho tất cả những gì ăn theo Uyên Linh đều gây chú ý. Báo nào, trang tin nào muốn có thêm nhiều người truy cập thì phải siêng đưa tin về Hồ Ngọc Hà, Uyên Linh. Nhiều thương hiệu tranh nhau tài trợ cho các chương trình của Uyên Linh – ngôi sao mới đang vụt sáng để gây chú ý “ké” đối với khách hàng tiềm năng.

Hot không kém là Lê Kiều Như nhưng cô này lại nổi tiếng ở những khía cạnh gây tranh cãi: chụp hình mát mẻ, ra cuốn tiểu thuyết “Sợi xích” gây nhiều tranh cãi về tính nghệ thuật và văn hóa, nhưng các nhà phát hành game lại rất ưu ái các “scandal girl”, bằng chứng là SGame mời cô làm Idol cho game “Thần tiên vui vẻ”, tương tự sự kiện Hoàng Thùy Linh được mời làm Idol cho game Linh Vương của VTC Game khi scandal của cô còn xôn xao trong cộng đồng mạng vào năm 2009. Hiệu ứng Viral marketing cho những sự kiện như thế này dù còn gây tranh cãi nhưng tỏ ra khá tốt vì mức độ lan truyền và bàn tán rất cao.

Ngô Bảo Châu là một trong những từ khóa mà cư dân mạng tìm kiếm nhiều nhất trong năm 2010 theo báo cáo của Yahoo, cho thấy tài năng toán học của Việt Nam vẫn đang là một tâm điểm gây chú ý cho cộng đồng mạng. Điều này cũng phản ánh rằng, không phải những cái gì liên quan đến sex, shock, scandal… mới gây chú ý cho thế hệ trẻ, nhưng nhiều nhà marketing lại chưa quan tâm khai thác những khía cạnh mới, hoặc thích đi theo con đường mòn để lăng xê thương hiệu của mình một cách nhanh nhất.

Trào lưu hot boy, hot girl, ca sĩ teen… do trang tin lá cải Kênh14 lăng xê lần đầu tiên nay đã giảm nhiệt so với một, hai năm trước nhưng vẫn đang chưa hết sốt trong thế giới ảo tại Việt Nam. Thủy Top, Hoàng Thùy Linh đã dần dần ít xuất hiện trên mặt báo, Pé Sam, Midu yên ắng hơn, Elly Trần, Tâm Tít đang trên đỉnh cao phong độ, những bộ ảnh phô vòng một đẫy đà của cô nàng Elly được nhiều cư dân mạng tích cực truyền nhau. Yến Trang, Thủy Tiên... tiếp tục tìm cách gây shock để khỏi bị lu mờ mặc dù độ tuổi không còn teen nữa. Tuy nhiều nhà quảng cáo vẫn đang sử dụng các Hot Boy, Hot girl này cho các chiến dịch quảng bá thương hiệu của họ trong giới trẻ nhưng năm nay chưa có online campaign nào đáng kể ghi nhận vai trò và tầm ảnh hưởng của hot boy, hot girl.

Khi mà ở Việt Nam, từ “blog” đồng nghĩa với Yahoo 360, nhiều hot blogger như OnlyU, Tắc Kè, Quách Đại Ca... là cái tên mà ai cũng biết thì khi Yahoo 360 ra đi họ lại bị phân tán đi khắp nơi, vì thế tầm ảnh hưởng bị suy yếu hơn lúc trước, tuy nhiên họ vẫn là mục tiêu “chăm sóc” của nhiều người làm viral marketing trên mạng. Các blogger mảng giải trí như Robbey, Gào… vẫn đều đều nhận được các lời mời quảng cáo, giới thiệu cho các thương hiệu. Họ có hệ thống cả chục blog, profile MXH thuộc các dịch vụ cung cấp blog khác nhau feed liên tục các nội dung do họ đưa lên, vì vậy bạn dùng dịch vụ blog nào hay MXH nào phổ biến ở Việt Nam thì đều có cơ hội kết nối được với họ.

7. Green Marketing gây hiệu ứng Viral rất tốt

Ngày 26 tháng 3 năm nay Giờ Trái Đất lại tiếp tục hứa hẹn trở thành tâm điểm chú ý. Năm ngoái, các bạn trẻ hào hứng chuyển cho nhau thông điệp đề nghị tắt điện trong 1h, những chiến dịch quảng cáo ăn theo trào lưu này cũng gây được nhiều chú ý và xây dựng được hình ảnh tích cực cho sản phẩm, thương hiệu.

Những chiến dịch vận động vì môi trường xanh trong cộng đồng mạng cũng có thể là gợi ý tốt để các công ty tung ra những sản phẩm, chiến dịch viral marketing bám sát nhịp đập của cuộc sống. Chẳng hạn như chiến dịch “Xoắn chai rỗng và giúp đưa nước sạch về cộng đồng” của nước uống đóng chai Dasani (Coca cola), hay xe PCX (Honda) tắt máy khi dừng nhằm hạn chế khí thải… là những thông điệp gây nhiều cảm tình cho các bạn trẻ.

Bài viết liên quan:

Internet Viral Marketing từ A tới Z (phần 1)

Internet Viral Marketing từ A tới Z (phần 2)

Internet Viral Marketing từ A tới Z (phần 2)

Chúng ta phải chấp nhận là với marketing lan truyền trên Internet, phản ứng của người tiếp nhận có thể là hai chiều: có khen, có chê, và điều đó cũng tốt vì khán giả chỉ quan tâm đến những bàn luận mang tính khách quan, họ không thích nhồi nhét vào đầu những lời lăng xê hoa mỹ về sản phẩm.

Các bước thực hiện một chiến dịch Viral Marketing

  • Nghiên cứu
Cần phải xác định sản phẩm, thương hiệu sẽ làm viral marketing có tính chất gì, khách hàng mục tiêu của nó có những đặc điểm ra sao từ đó chúng ta mới có phương pháp tiếp cận phù hợp. Ví dụ sản phẩm cần làm viral là một loại smart phone dành cho nam nhân viên văn phòng, ta sẽ xem xét những nhu cầu, mong muốn của họ, xem thử có thể khai thác khía cạnh nào liên quan đến sản phẩm hi-tech. Ví dụ các nam nhân viên văn phòng thường muốn thể hiện sự chuyên nghiệp của mình qua một chiếc smart phone có những tiện ích văn phòng đa dạng, họ muốn check mail và online mọi lúc mọi nơi, họ thích khoe với bạn bè về những đồ hi tech mình sở hữu…
Sau đó ta xác định xem smart phone của chúng ta đáp ứng được những nhu cầu nào trong số những nhu cầu của họ, những điểm được và chưa được của sản phẩm của chúng ta so với các sản phẩm của đối thủ khác…
Chúng ta cũng cần xác định xem những khách hàng này thường xuyên lui tới ở những trang web nào. Với sản phẩm smart phone kể trên, khách hàng có thể có thể sử dụng một số mạng xã hội như Facebook, Yahoo 360Plus… – là các mạng mà dân văn phòng hay sử dụng, họ có thể lui tới các diễn đàn công nghệ như handheldvn, tinhte…, những diễn đàn, webiste đánh dấu trang mà nam giới thường hay ghé thăm như otofun, linkhay… cũng có thể quy tụ nhiều người trong số họ. Hãy nghiên cứu thêm các website này để nắm được các xu hướng thảo luận, sở thích của họ nhằm có cách tiếp cận tốt nhất. Bằng một số công cụ như Google Ad Planner, thậm chí chúng ta có thể xác định các website mà họ hay lui tới ngoài các website chúng ta đã định ra.
Hình minh họa
Hình minh họa
  • Xác định mục đích, mục tiêu làm viral marketing
Một chiến dịch viral marketing có thể có nhiều mục đích nhưng nhất định phải có một mục đích được ưu tiên nhất, để dựa vào đó chúng ta làm cho chiến dịch marketing đi đúng hướng, không bị “trật đường rày” khỏi mong muốn ban đầu. Nó có thể là nhằm quảng bá thương hiệu, có thể nhằm thúc đẩy doanh số, thu hút khán giả tham gia sự kiện, thông báo về một sản phẩm vừa tung ra, hay để cải thiện hình ảnh của thương hiệu đang bị đi xuống. Một chiến dịch viral marketing thành công là một chiến dịch làm cho phản hồi của khán giả đúng như mong muốn ban đầu chúng ta đã định ra.
Để xác định được cái đích cần đi đến của chiến dịch viral marketing, chúng ta cần xác định được các mục tiêu để đánh giá hiệu quả của nó. Với viral marketing trên Internet, mục tiêu đó sẽ là số lượng traffic (lượng truy cập) đổ về website của sản phẩm vào thời điểm làm viral, tỷ lệ người mở email quảng bá sản phẩm, số lượng người quan tâm nhấn Like, vote, follow hay số người đăng ký làm thành viên, tỷ lệ người giới thiệu link cho người khác (bằng một số kỹ thuật, người ta có thể xác định được một thành viên người đã gởi link đó cho bao nhiêu người  mà những người đó phản hồi lại, như đăng ký, mua hàng, gởi bài thi…)…
Phối hợp cùng các mục tiêu về doanh số, thị phần, hay số lượng bài thi gởi về (nếu là cuộc thi) cùng những cảm nhận định tính về phản hồi tích cực, tiêu cực của khán giả đối với thông điệp đưa ra, chúng ta sẽ xây dựng được một cái đích để hướng chiến dịch Viral marketing đạt đến đó.
  • Xác định thông điệp làm viral.
Dựa trên những nghiên cứu kể trên, dựa trên mục đích, mục tiêu đề ra, chúng ta sẽ suy nghĩ ra những thông điệp sát sườn nhất. Một chiến dịch Viral Marketing chỉ thành công khi kích thích sự quan tâm, phản hồi, lan truyền… nên nếu thông điệp và cách thức hành động của chúng ta không làm được điều đó thì chiến dịch đó chỉ coi như một chương trình spam quảng cáo đơn thuần.
Quay trở lại với ví dụ về sản phẩm smart phone ở trên, trong thực tế đã có một công ty đi một chiêu bài thông minh, đó là nương theo làn sóng dư luận về iPhone 4 bị lỗi bắt sóng để gây chú ý và tự đề cao sản phẩm của mình. Công ty đó là Samsung, họ đã cho thực hiện tại Anh chương trình “Tặng Galaxy S cho người dùng iPhone 4”, qua đó họ khéo léo truyền đi thông điệp “Các vị đã phát chán vì chiếc iPhone trục trặc của mình rồi à, chúng tôi tự tin là sản phẩm Galaxy S sẽ là một sự thay thế hoàn hảo cho iPhone đó”. Chỉ tiến hành ở một nước, và chỉ “rỉ tai” với những người dùng iPhone 4 thế nhưng thông tin trên đã lan rất nhanh trên báo chí, và được xen lẫn vào giữa những chủ đề bàn tán của các blogger, các người dùng diễn đàn… về sự cố iPhone 4. Rồi người ta bắt đầu tò mò về chiếc Galaxy S, họ bàn tán, so sánh, tranh luận về nó khá hăng say, xem thử có thật là Galaxy S có thể sánh ngang với iPhone hay không. Nếu Samsung chỉ đơn giản tung quảng cáo khắp nơi, ra rả spam ở các diễn đàn, các trang Social Media thì có lẽ không có “lực lượng” người tình nguyện lan truyền miễn phí thông điệp của họ hùng hậu đến như vậy.
Thông điệp để làm Viral càng ngắn gọn, dễ hiểu thì càng dễ thành công. Thực tế cho thấy những thông điệp hài hước, gây tò mò hoặc mang tính thời sự mà nhiều người đang quan tâm… thì dễ được tiếp nhận nhất.
  • Ý tưởng và công cụ sử dụng
Có được một thông điệp tốt là ta đã có được 50% thành công, nhưng phải có một kịch bản xuất hiện phù hợp thì mới đạt được sự quan tâm của cộng đồng mạng.
Gần đây nhân cơ hội Facebook bị chặn đang làm cho cộng đồng mạng chộn rộn bàn tán, một clip được cho là của mạng xã hội Banbe.net tung ra để kéo khách từ Facebook sang mạng của mình đã gây thích thú và lan truyền trong cư dân mạng. Dựa trên một đoạn phim Tây Du Ký, người tạo ra nó đã xây dựng một kịch bản, đại loại là Tôn Ngộ Không thuyết phục Sư phụ và các đồ đệ bỏ Facebook sang Banbe.net, bên này có nhiều điều thú vị mà đỡ phải mệt đầu lo đổi IP để vào Facebook. Phim Tây Du Ký gắn liền với ký ức tuổi thơ của mỗi người, nay được xây dựng lại với những ngôn ngữ, những yếu tố rất đời thường mà cũng rất thời sự, ngay lập tức được mọi người thích thú truyền tay nhau và hiện nay nó đã xuất hiện tràn lan trên mạng.
Như vậy thì ý tưởng công cụ truyền tải thông điệp đóng vai trò khá quan trọng, sử dụng ý tưởng tốt, công cụ phù hợp, hình thức trình bày có chất lượng sẽ góp phần đáng kể vào thành công của chiến dịch.
Nguồn phát tán của thông điệp cũng đóng vai trò quan trọng. Nếu nguồn phát tán là từ những người, những tổ chức có tầm ảnh hưởng dư luận như các tờ báo, trang tin đông người xem, hot blogger, chủ các trang mạng xã hội nhiều bạn bè trong friend list, admin/mod hay các thành viên có uy tín ở các diễn đàn (gọi là  influencer hay power user).. thì sẽ dễ dàng kích thích sự quan tâm từ dư luận. Còn nếu  thông điệp được tung ra bởi một người bình thường không có gì gây chú ý thì cũng có thể thành công, nhưng sẽ phải nỗ lực nhiều hơn.
Nhắc lại cho các bạn một ví dụ, “hiện tượng” Thủy Top được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hot blogger OnlyU, sau đó được Kênh 14 – một trang tin lá cải thu hút nhiều thành phần tuổi teen truy cập – đăng thêm một bài giới thiệu, và thế là cô ta nổi như cồn từ đó.
  • Để chiến dịch không đi “trật đường rày”:
Thông điệp được truyền tải có khi nào vô tình bị người tiếp nhận “bẻ lái” làm trật con đường mà chiến dịch Viral Marketing đang hướng tới? Phản ứng của người tiếp nhận khi nhận được thông điệp không được tốt cho lắm làm cho chiến dịch mang tác dụng ngược thì sao? Đó là điều mà những người làm Viral Marketing trên Internet thường băn khoăn.
Chúng ta phải chấp nhận là với marketing lan truyền trên Internet, phản ứng của người tiếp nhận có thể là hai chiều: có khen, có chê, và điều đó cũng tốt vì khán giả chỉ quan tâm đến những bàn luận mang tính khách quan, họ không thích nhồi nhét vào đầu những lời lăng xê hoa mỹ về sản phẩm. Nếu bạn, hay khách hàng của bạn mong muốn một chiến dịch viral chỉ toàn những phản hồi tốt đẹp, và hô biến tất cả những bình luận trái chiều khó lọt tai, thì thành thật khuyên bạn nên tìm đến với những hình thức marketing truyền thống vốn mang tính truyền thông một chiều.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thả nổi mọi thứ trôi tự do theo luồng dư luận, vì chúng ta được trả tiền để làm  marketing chứ không phải làm chuyện ruồi bu. Cho nên dù thế nào cũng cần có biện pháp để kiểm soát được sự lan truyền của thông điệp để đảm bảo nó đem lại hiệu quả tích cực, dù biết việc này không dễ dàng gì. Nếu có quá nhiều người chê, sao không cài một vài chân gỗ vào khen; nếu thông điệp bị hiểu lầm, sao không tìm cách khéo léo đính chính; nếu search trên Google tên của Event, thấy toàn những lời chê bai từ những người đã đi coi năm trước, hãy đẩy lùi các kết quả tìm kiếm tiêu cực đó qua trang 2 bằng cách “dội bom” thật nhiều những tuyên truyền tốt về sự kiện trên các trang được máy tìm kiếm ưu ái. Nhưng khán giả không phải là những con lừa cho nên chúng ta phải “chữa cháy” khéo léo, nếu quá phô sẽ chẳng khác gì đổ thêm dầu vào lửa, và lúc đó chỉ có cách chuẩn bị tinh thần cho một đợt “uýnh hội đồng” tiếp theo của dân mạng.
  • Đo lường, đánh giá hiệu quả:
Nếu ngay từ đầu tiên, bạn đã xác định các mục tiêu định tính, định lượng rõ ràng thì không khó gì để đo lường hiệu quả. Làm marketing trên Internet có một điểm thuận lợi là kết quả thể hiện ngay bằng những con số hết sức rõ ràng do hệ thống cung cấp, chúng ta không cần phải nghi ngờ về mức độ sai lệch như các phương pháp đo lường của marketing truyền thống.
Bằng các công cụ thống kê việc truy cập website như Google Analytics, Getclicky, chúng ta có thể dễ dàng thống kê được lượng truy cập, các nguồn website dẫn về trang của chúng ta (vì chúng ta làm viral bằng cách tung thông điệp ra nhiều website khác nhau nên chỉ số này rất quan trọng để xác định người dùng tìm đến website của chúng ta từ những trang nào)… Bằng những công cụ như URL Builder của Google, chúng ta biết chính xác có bao nhiêu click trỏ về trang của chúng ta từ những trang web khác (cách này rất phù hợp để đo lường hiệu quả của những bài PR online). Chúng ta cũng có thể xây dựng những công cụ tracking của riêng mình nhằm phục vụ riêng cho tính đặc thù của chiến dịch.
Kết hợp cùng với các phòng ban, bộ phận khác, chúng ta có thể thu thập thêm những số liệu về doanh số, thị phần (nếu là chiến dịch viral để đẩy doanh số), số lượt đăng ký tham gia, số vé phát ra (nếu là Event), số bài dự thi (nếu là cuộc thi)…
Cuối cùng, đừng bỏ qua những thống kê định tính về phản ứng của người tiếp nhận đối với thông điệp, ảnh hưởng của thông điệp đến hình ảnh của đơn vị làm chủ thông điệp. Lượt truy cập đông đảo chứng tỏ chiến dịch viral được quan tâm, nhưng những lời khen chê của khán giả sẽ phản ánh tác động tích cực hay tiêu cực mà chiến dịch mang lại.

Có thể thấy, Viral Marketing là con đường nhiều người muốn đi những không phải ai cũng đến nơi được. Đặc biệt là ở Việt Nam, xu hướng này vẫn còn khá mới với các nhà quảng bá thương hiệu trong nước, cộng đồng tham gia sáng tạo, thiết kế cho Viral Marketing chưa nhiều. Tuy nhiên ta vẫn hy vọng cùng với sự đầu tư nghiêm túc của các nhãn hàng cũng như công ty quảng cáo, thời gian tới sẽ có nhiều thông điệp với quy mô và chất lượng vượt trội được tiếp tục “lan tỏa”…

Internet Viral Marketing từ A tới Z (phần 1)

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Internet, nhất là của các trang Social Media các chiến dịch marketing trong thời buổi công nghệ không thể nào bỏ qua mảnh đất màu mỡ của Viral marketing, chỉ cần một cái click chuột vào nút thích và nút chia sẻ hay post link lên trang đánh dấu link thì nội dung truyền tải lập tức hiện diện trong cộng đồng mạng.

Internet Viral Marketing đang lên ngôi

Ngày nay, khi các phương tiện Marketing truyền thống như tiếp thị trên báo giấy, quảng cáo trên tivi, website tỏ ra kém hiệu quả mà lại ngốn một chi phí khá lớn thì môi trường Internet giúp những người làm marketing gửi đi thông điệp của thương hiệu với một tốc độ lây lan chóng mặt, vô cùng hiệu quả và không phải lo lắng về vấn đề “thắt chặt hầu bao” – người ta gọi đó là Viral Marketing (tiếp thị lan truyền).

Đây là hình thức sử dụng sức mạnh truyền thông của cộng đồng cư dân mạng để đưa thông điệp của mình lan tỏa tới đối  tượng khách hàng mục tiêu. Trong quá khứ, nó đồng nghĩa với thuật ngữ “Words of Mouth” tức là maketing truyền miệng. Tuy nhiên ngày nay Viral Marketing không chỉ là “truyền miệng” đơn thuần nữa mà nó được thực hiện trên nhiều phương tiện khác nhau nhờ sự phát tán qua blog, mạng xã hội, các trang chia sẻ clip, hình ảnh, tin nhắn nhanh, e-mail… Và nếu ai đó có nhắc đến “Words of Mouth” thì ta cần phải hiểu đó cũng có thể là “Words of Social network”, “Words of SMS”…

Hình minh họa
Hình minh họa

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Internet, nhất là của các trang Social Media các chiến dịch marketing trong thời buổi công nghệ không thể nào bỏ qua mảnh đất màu mỡ của Viral marketing, chỉ cần một cái click chuột vào nút thích và nút chia sẻ hay post link lên trang đánh dấu link thì nội dung truyền tải lập tức hiện diện trong cộng đồng mạng.

Thông điệp của Viral marketing thường là một ý tưởng gây chú ý, tò mò, gây cười, được thể hiện dưới dạng clip, hình ảnh,  một cuộc thi, một sự kiện gây chú ý hay đơn giản là một đoạn text. Thành công của một chiến dịch Viral Marketing là làm cho người ta  thích thú  với thông điệp đưa ra và tự nhiên lan truyền thông điệp quảng cáo cho nhau, có thể thông qua gởi link, đăng trên blog… Người xem có thể khen-chê, hưởng ứng, phẫn nộ nhưng cái quan trọng là càng ngày càng nhiều người bị “lây nhiễm”, và mức độ nhận biết thương hiệu của khách hàng theo đó mà tăng lên.

Những công cụ để thực hiện Internet Viral Marketing

Tại Việt Nam hiện nay, một số công cụ phổ biến để thực hiện Internet Viral Marketing bao gồm:

Social Networks (Mạng xã hội): Các mạng xã hội mang tính kết nối như là những cộng đồng lớn và là đối tượng mục tiêu của những người làm Viral Marketing. Tùy vào đối tượng khách hàng mà sản phẩm nhắm tới, người ta sẽ lựa chọn các MXH phù hợp. Ví dụ nếu đối tượng là dân văn phòng thì MXH tập trung nhiều người trong số họ sẽ là Facebook, Henantrua, Noi.vn,Tamtay.vn, LinkedIn…, đối tượng sinh viên, học sinh thì MXH mang tính chất trẻ hơn như Zing Me, Yume, Go.vn, Cyworld, Truongxua, I-pro.vn… là phù hợp.

Một số công cụ dùng để thực hiện Viral Marketing

Personal Publishing (Xuất bản mang tính cá nhân): Hình thức blog tuy có đôi chút thoái trào ở Việt Nam kể từ khi Yahoo 360 ra đi tuy nhiên WordPress, Opera, Yahoo 360 Plus, Multiply… vẫn quy tụ nhiều gương mặt hot blogger hay còn gọi là “những người gây ảnh hưởng”. Đây là đối tượng mà người làm Viral Marketing muốn nhắm vào để tác động đến các nhóm đối tượng thường xuyên đọc blog của họ. Micro blog như Tumblr, Twitter là một trào lưu rất thịnh hành trên thế giới nhưng tại Việt Nam xem ra lại không được ưa chuộng lắm, có lẽ do Facebook đã làm quá tốt phần việc của nó rồi, cho nên hiện nay người làm Viral Marketing cũng chưa chú trọng lắm mảng micro blogging này.

Instant Message (Tin nhắn nhanh): Ở Việt Nam, phần mềm tin nhắn nhanh phổ biến nhất chiếm vị thế áp đảo vẫn là Yahoo Messenger. Người dùng thích chia sẻ những link mà họ cho là hay ho, thú vị cho bạn bè qua Yahoo Messenger. Skype, Paltalk, MSN, Google Talk… cũng là những phần mềm nhắn tin nhanh được một bộ phận người Việt Nam sử dụng, tuy nhiên mức độ phổ biến của chúng không cao nên có thể coi  (ở Việt Nam) Instant Message = Yahoo Messenger.

Online seeding (Gieo mầm điện tử): Cái tên đã nói lên bản chất vấn đề. Với phương tiện chủ yếu là forum (vốn rất thịnh hành ở Việt Nam), những người làm Online Seeding hay Forum Seeding phát tán thông điệp của họ trên các trang diễn đàn để thu hút thành viên chú ý đến topic của họ. Việc này về nguyên lý thì hết sức đơn giản, nhưng để tạo được một topic gây chú ý thực sự, kích thích bình luận, tranh luận giữa các thành viên là cả một nghệ thuật mà không phải Forum Seeder nào cũng làm được.

Other Social Media (Các trang truyền thông xã hội khác): Thực ra Social Media đã bao gồm cả các khái niệm Social Networks, Blog, diễn đàn, Instant Message kể trên nhưng sở dĩ người viết tách riêng các mảng kia ra vì nó quá rộng lớn. Phần còn lại của Social Media có thể kể đến những trang chia sẻ clip (Youtube, Clip.vn…), chia sẻ hình ảnh (Flickr, Photobucket…), chia sẻ tài liệu (Slideshare, Scribd…), đánh dấu trang (Linkhay, Buzz.vn, Tagvn…), chia sẻ, hỏi đáp (Wikipedia, Yahoo Answer…), tìm đường, tìm địa điểm (Diadiem, Vietbando, Thodia), giao dịch mua bán qua mạng (Chodientu, Enbac, 123mua…), mua hàng theo nhóm (Cungmua, Muachung, Zing Deal…)…

Brand SMS: Nếu là lần đầu tiên bạn nhận được 1 tin nhắn quảng cáo, thông báo… mà tên người gởi là Nokia, Sunsilk hay Trung tâm tiếng Anh nào đó, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên vì mình đâu có lưu trong danh bạ điện thoại tên ai là Nokia, là Sunsilk… Nhưng đó chính là hình thức BrandSMS – là dịch vụ gởi tin nhắn chủ động chuyên gửi tin nhắn quảng cáo  tới khách hàng là các thuê bao mạng điện thoại, có khả năng tạo tên đơn vị gửi riêng (header-name) hoặc để tên tổng đài gởi tin.

CCU (Concurrent Users) thông số cần quan tâm trong Digital Marketing

Khi làm chiến dịch Digital Marketing, đặc biệt là Forum seeding cho khách hàng, Bánh bèo thấy khách hàng thường hay chú trọng số lượng thành viên hay người dùng của 1 website, ví dụ như diễn đàn có càng nhiều thành viên thì khách hàng càng ưu tiên lựa chọn để quảng bá thương hiệu của mình trên đó. Tuy nhiên thực tế cho thấy đây không phải là một tiêu chí quan trọng, có nhiều diễn đàn lượng thành viên đăng ký rất đông nhưng thực tế số người hoạt động tích cực rất ít, dẫn tới là việc quảng cáo nhận được ít view và hưởng ứng (comment, click…) hơn kỳ vọng.

Bánh bèo đánh giá cao một thông số đó là CCU hay online user, active user…

CCU là gì

Khi còn làm marketing cho game online, Bánh bèo nhận thấy CCU là thông số được tất cả các nhà phát hành game quan tâm nhất vì nó phản ánh được mức độ đông khách của game, chứ không phải là số lượng download, cài đặt game hay số lượng account đăng ký (user).

Trong online game, CCU là số người chơi trong cùng một thời điểm, nếu một game có rất nhiều người đăng ký tài khoản nhưng khi log in vào game thấy số người chơi lèo tèo chứng tỏ CCU của game thấp và game đó không thu hút người chơi lắm.

Hình minh họa
Hình minh họa

Trên diễn đàn, mạng xã hội hay trang tin điện tử, CCU là số người online, hoạt động (đọc, blogging…) trên trang web đó ở cùng một thời điểm.

CCU giúp ích gì cho việc marketing

Đây là một thông số rất nên được coi trọng vì nó quyết định website đó có hấp dẫn như bạn nghĩ, mức độ hưởng ứng chiến dịch của bạn và thời điểm bạn nên tung thông điệp.

Lấy ví dụ, một diễn đàn có ít thành viên hơn 1 diễn đàn khác nhưng vào cùng một thời điểm số thành viên đang online nhiều hơn diễn đàn đông người đăng ký kia thì bạn có thể đánh giá cao mức độ yêu thích và tích cực hoạt động của thành viên diễn đàn đó hơn là diễn đàn có số lượng thành viên lớn nhưng vắng vẻ hơn.

Ngoài ra, nghiên cứu lựa chọn thời điểm có lượng CCU cao nhất sẽ giúp bạn lựa chọn điểm rơi cho chiến dịch tốt hơn. Chẳng hạn có 1 nghiên cứu chỉ ra rằng lúc 2Oh là thời điểm số lượng người online trên Facebook nhiều nhất, như vậy lúc này bạn shoot thông điệp quảng cáo của mình trên Fan page thì sẽ tiếp được nhiều người nhất, còn vào những lúc không phải cao điểm thì thông điệp của bạn rất dễ bị đè dưới news feed của những friend và page khác khi người dùng check Facebook.

Số lượng CCU trong một thời điểm có liên quan đến độ tuổi, công việc, sở thích của đối tượng. Chẳng hạn, ở một trang tin điện tử dành cho tuổi teen, thời điểm có CCU cao nhất là vào lúc 9h sáng và 15h chiều, vào buổi tối thì có vẻ ít hơn 2 thời điểm này, người viết đoán là do học sinh cấp 3 lúc này đang học bài hoặc đi học thêm. Ngược lại một trang web dành cho dân công nghệ thì thời điểm có CCU cao nhất là buổi tối trong khi trang web dành cho dân công sở thì thời điểm có CCU cao nhất là trong giờ hành chánh còn 2 ngày cuối tuần traffic xuống khá thấp.

Đo lường CCU như thế nào

Nếu bạn là chủ trang web thì việc đo lường CCU không khó, có khá nhiều công cụ và module cho phép bạn đo lường chính xác số người dùng hoạt động trong cùng một thời điểm. Chẳng hạn bạn có thể dùng Getclicky, một phần mềm tracking tương tự Google Analytics cho phép bạn xem real time traffic của website của mình.

Còn nếu trang web khác không phải của bạn, bạn đành trông đợi vào số liệu cung cấp từ chủ trang web. Nhiều diễn đàn, website có thông số số người online ngay trên trang web của họ, bạn có thể tham khảo. Tuy nhiên cần lưu ý là CCU có thể được nâng lên đáng kể để làm đẹp cho trang web  nhờ vào một số kỹ thuật, chẳng hạn như kéo dài phiên làm việc (session) của user đó ra. Ví dụ khi bạn vào 1 website, hệ thống sẽ tính bạn là một truy cập đang online theo session mặc định  là 3O phút, nếu cài đặt session dài ra, thì có khi bạn đã thoát ra cả ngày rồi mà website vẫn ghi nhận bạn đang hoạt động trên website của họ.

Theo banhbeo.wordpress.com

Khám phá 8 bí quyết để xây dựng thương hiệu

Trong tâm trí người tiêu dùng, thương hiệu thành công có những đặc điểm sau: đặc trưng, có cam kết hấp dẫn và luôn uy tín. Như Walter Landor từng nhận xét: “Sản phẩm ra đời trong nhà máy còn thương hiệu được tạo ra trong tâm trí.”

8 bí quyết dưới đây có thể hữu ích với những ai đang cố tìm một bản sắc riêng cho thương hiệu của mình. Bạn có thể phát triển những ý tưởng này để nuôi dưỡng mối quan hệ khách hàng – thương hiệu, vốn dĩ là bản chất thực của xây dựng thương hiệu.

Thương hiệu
Thương hiệu

1. Nổi bật

Có một sản phẩm thích hợp và khác biệt góp phần rất quan trọng vào thành công của bạn. Một chiến lược xây dựng thương hiệu điển hình thường bắt đầu từ định vị rõ ràng: bạn phải biết đối tượng khách hàng là ai, tình hình cạnh tranh như thế nào và cách chiến thắng là gì.

2. Khẳng định vị thế

Đa số các thương hiệu lớn đạt được thành công ngày hôm nay là nhờ bắt đầu bằng việc xác định lĩnh vực hoạt động và dồn hết tâm trí vào lĩnh vực đã chọn. Làm sao để biết mình thành công? Đó là khi tên thương hiệu trở thành tên chung cho một ngành, ví dụ như Google, Band-Aid, Kleenex hay Xerox.

3. Tìm hiểu tâm lý khách hàng

Đôi lúc điểm khác biệt rõ ràng nhất của một thương hiệu chính là sự thật hiển nhiên mà chưa một sản phẩm nào khác kịp nắm bắt. Sự kết hợp giữa khả năng nắm bắt tâm lý khách hàng và nhu cầu con người sẽ mang lại cơ hội thị trường vô giá cho bạn.

4. Uy tín

Khách hàng thường gắn bó hơn với những thương hiệu xuất sắc vượt trên kỳ vọng của họ. Do đó, uy tín không chỉ giúp khách hàng trung thành hơn mà còn khuyến khích họ giới thiệu thương hiệu với nhiều người khác.

5. Đừng quên yếu tố tình cảm

Thông điệp mang tính lý trí dẫu quan trọng đến đâu vẫn không thể giúp bạn chạm đến mối liên kết mạnh mẽ được hình thành khi thương hiệu ngự trị trong tâm trí khách hàng. Hơn nữa, tình cảm không phải là thứ dễ bị đối thủ bắt chước.

6. Bắt đầu từ nội bộ

Xây dựng một đội ngũ nhân viên tận tâm và nhiệt tình là điều không thể bỏ qua trong xây dựng thương hiệu. Những công ty biết cách khuyến khích nhân viên thực hiện cam kết thương hiệu nghiễm nhiên có được đội ngũ “cổ động viên” lý tưởng cho thương hiệu.

7. Sở hữu kênh truyền thông riêng

Không  những giúp tiết kiệm chi phí, việc sở hữu kênh truyền thông riêng còn giúp bạn đối thoại trực tiếp với khách hàng, hiệu quả hơn quảng cáo. Và cả đối thủ cạnh tranh cũng khó tiếp cận hay tác động được kênh thông tin riêng của bạn.

8. Đối thoại

Tiếp thị kiểu cũ thường chỉ truyền đạt thông tin một chiều từ thương hiệu đến khách hàng. Những thương hiệu sáng suốt ngày nay sẽ tìm cách đối thoại song phương qua các phương tiện tương tác kỹ thuật số để khách hàng có cơ hội thắt chặt quan hệ với thương hiệu, và góp ý xây dựng những sản phẩm/dịch vụ mà họ ưa thích.

(Theo thegioithuonghieu.com.vn)

Những điều cần biết về Digital Marketing

“Digital Marketing là việc thực thi các hoạt động quảng bá sản phẩm và dịch vụ bằng cách sử dụng các kênh phân phối trực tuyến định hướng theo cơ sở dữ liệu nhằm mục đích tiếp cận khách hàng đúng thời điểm, đúng nhu cầu, đúng đối tượng với mức chi phí hợp lí” – Jared Reitzin, CEO – mobileStorm Inc.

 Bài viết giới thiệu về  những hình thức phổ biến nhất. Các công cụ được chia làm 3 nhóm tùy theo mục tiêu:

1. Nhóm tăng độ nhận biết thương hiệu

• Display ads (Quảng cáo hiển thị)
• PR trực tuyến
• Blog & Forum

2. Nhóm tăng tính thuyết phục đối với sản phẩm và thương hiệu

• Web-based marketing
• Social Media marketing
• PR trực tuyến
• Blog & Forum
• SEO (Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm)

3. Nhóm tăng doanh số và chăm sóc khách hàng

• PPC: Google Adwords, Facebooks Ads
• Social Media Marketing
• Email Marketing
• Mobile Marketing: Message (SMS & MMS)
• SEO

Digital Marketing
Digital Marketing

Các công cụ Digital Marketing vẫn đang tiếp tục phát triển và mở rộng. Mỗi công cụ Digital Marketing đều có ưu điểm riêng, song doanh nghiệp cần tận dụng “đúng người đúng việc”, vì nếu không, hiệu quả sẽ không như ý muốn. Không một công cụ nào hiệu quả tuyệt đối hơn các công cụ khác, một kế hoạch truyền thông tích hợp nhiều công cụ, thậm chí cả những công cụ ngoài Digital Marketing, sẽ mang lại hiệu quả cao nhất.

Ưu Điểm Nổi Bật Của Digital Marketing

• Tính tương tác cao: tạo được phản ứng 2 chiều giữa marketer và người dùng, giúp marketer hiểu và xử lý nhanh hành vi và phản ứng của khách hàng.
• Hiệu quả cao vì lan tỏa nhanh, tiết kiệm chi phí, sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thể được tiếp thị 24/24 trong ngày.
• Xác định rõ được phân khúc khách hàng: mỗi công cụ sẽ áp dụng cho một phân khúc khách hàng khác nhau, phù hợp với đặc tính của mỗi khách hàng.
• Sự tích hợp công nghệ số hội tụ giúp chúng ta có nhiều lựa chọn hơn như cùng lúc có thể tác động đến khách hàng bằng Email Marketing, Website, Mobile Marketing, SMS, Social Media Marketing,…

Digital Marketing
Digital Marketing

Để làm được Digital Marketing doanh nghiệp cần có những điều sau:

• Đội ngũ của doanh nghiệp phải mạnh, có nhân viên am hiểu về marketing và công nghệ.
• Hạ tầng cơ sở về công nghệ tốt.
• Tham khảo danh sách các đối tác tiềm năng.
• Nghiên cứu danh sách khách hàng, tìm hiểu khách hàng sử dụng những sản phẩm, dịch vụ nào để xác định các mặt mạnh – yếu của doanh nghiệp.
(Nếu doanh nghiệp không có khả năng, bạn có thể nhờ đến sự hỗ trợ của các công ty chuyên cung cấp dịch vụ Digital Marketing vẫn căn cứ trên các yếu tố vừa nêu).
Muốn Digital Marketing Thành Công, Cần Hội Đủ 4 Yếu Tố:
1. Có được cơ sở dữ liệu khách hàng
2. Tạo được sự tương tác
3. Có sự tích hợp các công cụ Digital và công cụ truyền trống
4. Chương trình phải đo lường được hiệu quả.

Con Dao Hai Lưỡi

Thế giới Internet là một môi trường tương tác đa chiều. Ở nơi đó, công chúng được tự do nói lên tiếng nói của mình nên họ rất thẳng thắn bình phẩm: yêu nói yêu, ghét nói ghét. Nếu thích, họ sẽ dành cho bạn những lời hoa mỹ, nếu ghét, họ sẽ thẳng tay “ném đá” bạn tơi tả đến bầm dập… Hơn nữa, cộng đồng trên Internet rất “a-dua”. Bạn có thể hình dung sức mạnh của cộng đồng chứ?
Vì thế, để thực hiện chiến dịch Digital Marketing thành công, bạn phải có những bước đi đúng đắn ngay từ đầu và luôn đặt lợi ích khách hàng lên trên hết. Người ta sẽ không đối xử tệ với bạn nếu bạn đối xử tốt với họ. Dân gian có câu “tin xấu lan nhanh, tin tốt lan chậm” nhưng trong môi trường Internet, tin xấu và tin tốt đều lan nhanh như nhau!